TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Monday, August 31, 2009

Năm ngàn một trăm bốn mươi bảy lượng vàng hiến cho Chính phủ cách mạng lâm thời.

31/08/2009 06:22 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Sáu mươi tư mùa thu kể từ những ngày Tháng Tám, nhà báo Xuân Ba đã tìm đến nhà cụ quả phụ Trịnh Văn Bô - một nhân chứng lịch sử.
Sáu mươi tư mùa thu kể từ những ngày Tháng Tám sục sụi trong từng huyết quản của mỗi lương dân đất Việt. Tôi tìm đến nhà cụ quả phụ Trịnh Văn Bô. Một nhân chứng lịch sử.


Ông bà Trịnh Văn Bô. Ảnh: Xuân Ba

Tôi được hầu chuyện cụ lần mới đây nhất là mùa hạ năm ngoái nhân có cuộc hội thảo của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Hội đồng tộc Trịnh Việt Nam dịp 480 năm ngày mất của Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng (cụ Trịnh Văn Bô là viễn tổ, đời thứ 17 của Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương).
Cụ quả phụ Trịnh Văn Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, năm nay tròn 96 tuổi. Con số, nhiều khi chả nói lên được mấy điều gì nhưng cũng phải nhắc lại rằng: 5147, năm ngàn một trăm bốn mươi bảy lượng vàng mà gia đình ông bà Trịnh Văn Bô đã hiến cho Chính phủ cách mạng lâm thời trong những ngày đầu cam go.
Đó là chưa kể những ngôi nhà mà ông bà hiến cho cách mạng trong đó có ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang là nơi Bác Hồ và các đồng chí như: Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp... từ chiến khu về Hà Nội đã ở. Chính trong ngôi nhà này, Bác Hồ đã viết Tuyên ngôn Độc lập.
Ngôi nhà 48 Hàng Ngang hiện được xếp hạng Di tích Lịch sử. Năm 1946, ông Trịnh Văn Bô được tháp tùng Bác Hồ sang thăm Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp.
Hồi ức của nhà văn Sơn Tùng
Trong giới viết lách Việt, nhà văn Sơn Tựng có nhiều hồi ức, ghi chép về gia đình cụ Trịnh Văn Bô.
Trong câu chuyện giữa nhà văn và bà quả phụ Trịnh Văn Bô, tức bà Hoàng Thị Minh Hồ đã lưu đậm một sự kiện lịch sử...
... Ngày 26 tháng 8 là ngày chủ nhật, ngày của Tuần lễ đầu tiên Hà Nội giành chính quyền về tay nhân dân.
Mới sáng tỏ mặt người, ông Nguyễn Lương Bằng, ông Vũ Đình Huỳnh gặp tôi "Ông Cụ tiếp khách nước ngoài trưa hôm nay. Một vị khách rất quan trọng có quan hệ công việc với Ông Cụ. Nhờ chị giúp cho một tiệc mặn một tiệc trà sau bữa ăn. Chỉ có 6 người thôi. Theo ý ông Cụ, không nhiều món cốt là ngon cái phong vị Việt Nam. Nhưng rượu là trọng vị của bữa ăn đối với vị khách này"".
Tôi hỏi cho rõ hơn vị khách này kén rượu ắt là kén cà phê thuộc loại hảo hạng? Cả hai ông cùng cười đắc ý...
Tôi bèn đến Hàng Buồm hiệu Đông Hưng Viên nổi tiếng đặt món ăn và một chai Wissky loại Johnnie Walk Old Frotech Wissky. Nhưng về sau ông Huỳnh lại bảo, ông Cụ hiểu rõ sở thích của khách ưng uống loại Vermouth.
Ông Huỳnh cho biết đúng 12 giờ thì khách đến. Ông Cụ tiếp cơm khách tại gác 2 phòng chính lầu bên trong của toà nhà 48 Hàng Ngang. Tôi cho bày biện trang hoàng xong từ 10 giờ... Nhưng không rõ lý do gì vị khách đến chậm. Ông Trường Chinh, ông Võ Nguyên Giáp mấy lần ra cửa ngóng... Ông Nguyễn Lương Bằng, ông Vũ Đình Huỳnh xuống tận gác một dưới nhà đợi.
Đến 12 giờ 30 vẫn chưa thấy xe đón khách về. Ông Cụ lại ra cửa... Giữa ban trưa, tôi nhìn qua khe màn gió thấy rõ được ông Cụ. Từ hôm Cụ về được cụ hỏi han, biết Cụ là một nhân vật quan trọng ai cũng nể vì, tôi vô cùng kính phục và tin tưởng.
Giữa trưa này, ông Cụ trong bộ áo cũ nâu sồng gầy đanh như một đạo cốt, mắt sáng mà dịu dàng nhìn suốt đến tận cùng... Lòng tôi tràn đầy một niềm thương kính... Cụ như một người mẹ, như một Đức Tin...
Cụ quả phụ Trịnh Văn Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, năm nay tròn 96 tuổi. Ảnh Xuân Ba.

Gần 1 giờ chiều xe đón khách ông Cụ mới về. Mọi người đều lui vào phía trong. Ông Cụ và ông Võ Nguyên Giáp đón khách ngay tại cửa. Chào hỏi nhau bằng tiếng Pháp. Ông Cụ và vị khách dùng tiếng Anh.
Từ phút này tôi không được biết gì thêm nữa... Một lúc sau đưa các món ăn lên bàn tiệc tại phòng khách. Trong mâm sáu người chỉ có một suất dùng đồ Tây. Nhưng vị khách ngoại quốc này cầm được đũa, gia nhân tôi đem đũa bát vào...
Sau bữa cơm, ông Cụ tiếp vị khách ở phòng trà trông ra ban công có cây cảnh và hoa. Cuộc đàm đạo diễn ra tận chiều tắt mới kết. Bấy giờ qua ông Nguyễn Lương Bằng, tôi được biết vị khách ngoại quốc ấy là thiếu tá Patti một người Mỹ trong phe đồng minh chống phát xít!
Hôm sau vợ chồng tôi tiếp khách có Bác và mấy người Mỹ. Tôi nhớ rất rõ hai người là thiếu tá Thomas và Patti. Chính hôm đó Bác trao đổi với Patti về bản Tuyên ngôn Độc lập.
Đọc ngay trang đầu, Patti quay sang nói với Bác rằng hình như tôi đã đọc những dòng này ở đâu đó? Bác cười, đó là những điều mà bản Tuyên ngôn nhân quyền bất hủ của đất nước các bạn...
Viết đến đây chợt nhớ đến một sử gia đó từng nhận xét đại ý, những lãnh tụ lập quốc thường có những đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức Dân tộc và nhân dân, thậm chí với nhân loại nữa!
Truân chuyên, nhiêu khê về ngôi nhà 34 Hoàng Diệu
Đã mươi lăm năm có lẻ...
Trong số đơn từ của bạn đọc gửi về cho Toà báo, tôi có nhận được một lá đơn của chính bà Hoàng Thị Minh Hồ gửi đến nhiều cơ quan ngôn luận khác, can thiệp với các cơ quan có trách nhiệm để gia đình bà xin lại ngôi nhà 34 phố Hoàng Diệu mà bà cho mượn từ năm 1954. Tóm tắt lá đơn cũng như diễn tiến của nội vụ như thế này:
... Tháng 10 năm 1987, đồng chí cố vấn Trường Chinh có mời ông Trịnh Văn Bô (ông Trịnh Văn Bô đã mất năm 1988. Cả hai ông bà đều được tặng phần thưởng cao quý, Huân chương Độc Lập Hạng Nhất) và bà Hoàng Thị Minh Hồ lên gặp thăm hỏi và trao đổi công việc.
Hai ông bà nhân cuộc gặp thân mật này đã ngỏ ý kiến với đồng chí Cố vấn, xin Đảng và Nhà nước cho phép gia đình được trở về sống tại 34 Hoàng Diệu, Quận Ba Đình vì gia đình ông bà hiện đông các con cùng các cháu, chắt. Cả bốn thế hệ lại ở trong một ngôi nhà tại phố Nguyễn Gia Thiều.
Nhà 34 Hoàng Diệu, ông bà Trịnh Văn Bô cho Thiếu tướng Hoàng Văn Thái mượn từ những ngày Tiếp quản Thủ Đô năm 1954 với thời hạn 2 năm (1954-1956) đến ngày Tổng tuyển cử đất nước thì trả. Sự việc này đã được các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ xác nhận. Nhưng rồi cuộc chiến tranh vệ quốc đó trở nên dằng dặc, gian nan...
Năm 1986, đồng chí Hoàng Văn Thái mất, Bộ Quốc Phòng xây nhà cho các tướng lĩnh cao cấp tại Liễu Giai rộng rãi khang trang. Đây là khu biệt thự đặc biệt giành cho các tướng lĩnh hàng đầu của quân đội.
Ngày 24 tháng 6 năm 1988, đồng chí Lê Đức Thọ đã gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh thông báo ý kiến của các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ về việc cả ba đồng chí cùng nhất trí cho gia đình ông bà Trịnh Văn Bô cùng các con cái cháu chắt được về sống tại 34 Hoàng Diệu.
Ngày 10 tháng 12 năm 1988, đồng chí Lê Đức Thọ gửi thư cho bà Trịnh Văn Bô thông báo việc cả ba đồng chí Cố vấn và đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh cùng nhất trí cho gia đình bà Trịnh Văn Bô được trở về sống ở 34 Hoàng Diệu.
Đồng chí Lê Đức Thọ đã chỉ thị cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh bố trí cho gia đình đồng chí Hoàng Văn Thái nhà ở cho thật tốt, đầy đủ tiện nghi sao cho xứng đáng với công lao của Đại tướng đối với cách mạng, đối với quân đội. Sau đó, bà quả phụ đại tướng Hoàng Văn Thái và gia đình đã trả nhà 34 Hoàng Diệu chuyển xuống khu biệt thự Liễu Giai.
Ngày 1 tháng 6 năm 1989, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đã phê chuẩn việc trả lại nhà 34 Hoàng Diệu cho bà Bô. Ngày 10 tháng 7 năm 1990, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo cũng có ý kiến nhất trí việc trả nhà cho bà Bô.
Năm tháng cứ lần lữa trôi... Bà Bô vẫn chưa nhận được nhà...


Ảnh: Xuân Ba

Ngày 10 tháng 12 năm 1993, đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là Thủ tướng Chính phủ sau khi tiếp nhận đơn của bà Bô đã đồng ý việc trả nhà 34 Hoàng Diệu cho gia đình bà Bô. Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao cho Phó Thủ tướng thời đó là đồng chí Phan Văn Khải ký quyết định trả nhà này.
Ngày 8 tháng 10 năm 1994, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải đã có công văn nhắc Bộ Quốc phòng sớm thực hiện việc trả nhà.
Ngày 24 tháng 10 năm 1994, Bộ Quốc phòng, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở nhà đất thành phố Hà Nội đã họp và quyết định trả nhà cho bà Bô.
vv... và vv...
Nhưng qua năm đó và năm sau nữa, bà Hoàng Thị Minh Hồ tức bà quả phụ Trịnh Văn Bô vẫn không nhận được nhà 34 Hoàng Diệu!
Thời điểm ấy, nhiều phóng viên khi nhận được đơn thư của bà quả phụ Trịnh Văn Bô đã bức xúc trước điều kỳ quặc đến khó hiểu, rằng từng ấy cá nhân và cơ quan có trách nhiệm đã quyết định việc trả nhà 34 Hoàng Diệu cho gia đình bà Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, với ngần ấy những chữ ký đầy quyền lực mà bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp được đến ở nhà 34 Hoàng Diệu!
Rồi tất thảy cũng ngơ ngác khi biết rằng, không biết từ đâu phát ra cái lệnh đây là vấn đề nhạy cảm (?!) hạn chế việc đưa tin!
Chỉ còn cách, cái cách muôn thủa, cái công việc việc đằng sau mặt báo tẻ ngắt, vô thưởng vô phạt và cũng vô trách nhiệm nữa là các toà báo từng nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của gia đình bà Trịnh Văn Bô cũng chỉ biết kính chuyển những lá đơn đó đến các cơ quan có trách nhiệm!
Mãi cho đến 9 năm sau, phải 9 năm, bằng độ dài thời gian của cuộc kháng chiến chống Pháp, gia đình bà quả phụ Trịnh Văn Bô mới được trở về ngôi nhà cũ của mình ở 34 Hoàng Diệu, với những giấy tờ về bằng khoán điền thổ của ngôi nhà mà gia đình bà đó mua từ trước cách mạng.
Có vô số những chuyện về quãng thời gian đợi và đòi nhà ấy! Nhưng mà thôi, có lẽ chả ích chi khi kể ra những việc buồn lẽ ra không đáng có đó?
Ghi chép của Xuân Ba

Nhiều tàu nước ngoài đến nạo hút cát trái phép

BÀ RỊA - VŨNG TÀU
(NLĐ) - UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 30-8 cho biết vừa chỉ đạo Bộ đội Biên phòng, Sở GTVT, Cảng vụ Vũng Tàu cùng CSGT đường thủy thực hiện các biện pháp kiểm soát và đình chỉ việc nạo vét cát trái phép tại cửa biển Lộc An để tránh sạt lở.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng Bà Rịa - Vũng tàu, khu vực cửa biển Lộc An thường xuyên có 17 sà lan và tàu nước ngoài vào nạo vét cát trái phép làm sạt lở bờ biển. Trong đó, Công ty TNHH Phước Luân (Bà Rịa - Vũng Tàu) đã bị lập biên bản vì đưa 10 chiếc tàu tự hành có trang bị máy bơm hút cát (có cả tàu Trung Quốc, dù đã làm thủ tục nhập cảnh VN nhưng không báo cáo với Sở GTVT tỉnh) vào khu vực cửa biển Lộc An hoạt động.

“Giặc vàng” tàn phá sông, suối

Hàng loạt điểm khai thác vàng trái phép tiếp tục diễn ra công khai và kéo dài ở Quảng Nam đã gây mất an ninh, trật tự, khiến dư luận bức xúc
Từ cuối tháng 7-2009 đến nay, tình trạng khai thác vàng sa khoáng trái phép lại diễn ra ồ ạt tại nhiều địa phương ở các huyện miền núi Quảng Nam.
Nhiều sông suối ở Quảng Nam bị băm nát do khai thác vàng sa khoáng trái phép. Ảnh: N.L.S.Minh
Băm nát núi rừng, sông suối
Dọc các con sông, dòng suối và những cánh rừng tại các huyện miền núi Phước Sơn, Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang, Hiệp Đức, Tiên Phước (Quảng Nam), hiện đang có rất nhiều điểm nóng về khai thác vàng sa khoáng và vàng gốc trái phép. Nhiều nơi, “giặc vàng” đưa cả máy ủi, tàu cuốc, máy nổ và hàng chục nhân công vào đào vàng cả ngày lẫn đêm, gây náo loạn cả vùng.
Dọc sông Vàng qua khu vực Nà Mun (xã Tư, huyện Đông Giang) đã và đang bị băm nát, hầm hố nham nhở, cây cối đổ ngổn ngang, nước sông đỏ quạch... Nơi đây trở thành lãnh địa của những người khai thác vàng trái phép, ngay cả những người Cơtu bản địa cũng không dám bén mảng đến. Ông Nguyễn Văn Phải, Chủ tịch UBND xã Tư, tỏ vẻ bất lực: “Biết rừng Nà Mun bị tàn phá nghiêm trọng nhưng chúng tôi cũng không thể làm gì hơn. Lực lượng liên ngành của huyện Đông Giang đã tăng cường về địa phương nhưng tình hình khai thác vàng trái phép có giảm được đâu”.
Hầu hết các con sông, dòng suối ở huyện Phước Sơn đều có những tụ điểm khai thác vàng trái phép. Nhiều đoạn sông Mỹ ở xã Phước Xuân, sông Đăkmy ở Phước Chánh, sông Trường ở Phước Hiệp, suối Đăksa ở Phước Đức, suối Đăkmet ở Phước Thành... bị “giặc vàng” biến thành sông, suối chết do môi trường bị tàn phá và ô nhiễm thủy ngân, cyanur... nghiêm trọng. Theo Phòng Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) huyện Phước Sơn, ngoài 12 công ty được cấp phép, trên địa bàn huyện còn có hàng chục điểm khai thác vàng chui; một số công ty, đơn vị cũng tham gia vào đội quân “giặc vàng”. Dù chưa có giấy phép nhưng hơn tháng nay, Công ty TNHH Thiên Phước vẫn đưa phương tiện và nhân công vào khai thác vàng dọc dòng sông Đăkmy tại thôn 4, xã Phước Đức.
Truy quét cũng như không
Ông Đinh Văn Long, Phó Phòng TN-MT huyện Phước Sơn, cho biết từ đầu năm đến nay, lực lượng liên ngành của huyện đã tổ chức 4 đợt truy quét vào các điểm nóng khai thác vàng trái phép ở huyện. Các cuộc đột kích đều bất ngờ, bí mật nhưng khi đến nơi thì “giặc vàng” đã cao chạy xa bay. Lực lượng chức năng giữ 28 máy nổ dùng để khai thác vàng, đốt 15 lán trại, chặt phá 5.000 m ống dây dẫn nước; xử phạt hành chính 210 triệu đồng và phạt vi phạm môi trường 25 triệu đồng đối với những đơn vị chưa được cấp phép hoặc được cấp phép nhưng không thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.
Các địa phương miền núi Quảng Nam hiện đang đau đầu với những hệ lụy của việc khai thác vàng trái phép. Không chỉ đất rừng bị mất, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng mà đủ thứ tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, HIV/AIDS... cũng bộc phát. Một số sơn nữ vùng cao bị cuốn vào vòng xoáy của vàng. Họ lao động nặng nhọc, bị lạm dụng, bị lừa tình trở thành những cô gái không chồng mà có con, sống lay lắt trong khó khăn và trong sự hắt hủi vì luật tục của buôn làng.
Ông Doãn Văn Thanh, Trưởng Phòng Khoáng sản - Sở TN-MT Quảng Nam, thừa nhận: “Kiểm soát tình hình khai thác vàng trái phép ở các địa phương miền núi rất khó khăn. Lực lượng chức năng của tỉnh và huyện tổ chức truy quét, đẩy đuổi xong, sau khi rút về thì đâu lại vào đấy”.
Sẽ xử lý triệt để các điểm nóng
Trước diễn biến phức tạp của tình trạng khai thác vàng trái phép ở các địa phương miền núi, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Nguyễn Ngọc Quang vừa ký công điện chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh xử lý triệt để các điểm nóng, đẩy đuổi các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép ra khỏi địa bàn và xử lý nghiêm hành vi tiếp tay, thỏa hiệp với “giặc vàng”.
Công điện nêu rõ: “Trường hợp chính quyền địa phương cơ sở không chấp hành thực hiện hoặc chần chừ, né tránh, dung túng cho các đối tượng vi phạm, còn để hoạt động khai thác vàng trái phép tiếp diễn thì chủ tịch UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh và pháp luật”.
NHI LY - SƠN MINH

Giật mình nghĩa địa “ết” giữa đại ngàn

Già Nắn chỉ vòng hoa rừng toàn màu trắng còn tươi nguyên nói: “Dọc ni có 11 ngôi mộ, toàn là những thằng còn trẻ. Chúng đang ngực căng cánh nỏ, mà con ma tuý, con “ết” hắn quật cho nên phải nằm lại đây!”.
“Đại dịch trắng” nhấn chìm bản làng
“Chuyện dao kiếm tui không ngán nhưng vào Yên Tĩnh vẫn thấy ớn cái xilanh của mấy thằng nghiện, lỡ chạm vào là đi chầu phà (chầu trời). Nể “bác cả” giới thiệu nên tôi mới đưa các anh đi”, Hùng râu, tay xe ôm dáng người cao to, râu quai nón rậm rì, bảo vậy rồi dẫn chúng tôi vào xã Yên Tĩnh (huyện Tương Dương, Nghệ An).

Nghĩa địa ma tuý của Chà Lủm.

Hoàng hôn lấp ló sau những cánh rừng chúng tôi mới đến nơi. Chỉ vào những túp lều tranh xiêu vẹo, rách nát, kiểu nhà sàn nằm lẩn quất dưới chân núi, Hùng nói: “Bản Chà Lủm đó!”.

Hùng kể: “Cái “bột trắng” chết tiệt đã huỷ bản làng ra nông nỗi này. Giờ có hàng chục nấm mồ nằm trên các viền đồi. Không tên tuổi, không địa chỉ, năm sinh, những nấm mồ nằm im, cỏ dại phủ lấp”.

Chà Lủm là bản xa nhất của xã Yên Tĩnh. Trước đây, có điểm khai thác vàng, người tứ xứ đổ về đây. Rừng núi tan hoang. Dân bản được dụ dỗ làm cửu vạn mà “mồi” là thứ thuốc trắng với lời “quảng cáo”: “Thuốc của Phà, hút vô khoẻ như voi, đào được nhiều vàng tha hồ sướng”.

Những chàng trai căng sức, tuổi bẻ gãy sừng trâu dật dờ dần và càng ngày càng bị lệ thuốc vào con “ma trắng”. Tiền làm đến đâu, nuôi “ma trắng” đến đấy.

Rồi chính quyền và công an vào cuộc, nạn khai thác vàng chấm dứt, nhóm khai thác vàng về xuôi. Nhưng đại dịch trắng đã kịp nhấn chìm dần làng bản.

Bản “chết non”

Nắng quái chiều giữa đại ngàn. Không một làn gió, chỉ nghe âm thanh u... u như tiếng rừng thở. Tiếng chim lợn trên núi thả rơi vào thinh không nghe rờn rợn.

Trưởng bản Chà Lủm, ông Vi Thành đôi mắt buồn xo: “Bản ta giờ là bản nghiện. Già trẻ gái trai bị Phà (ông trời) bắt gần hết rồi”.

Già Nắn hơn 70 tuổi nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, dẫn chúng tôi vào rú mồ. Rú mồ này nằm dưới dãy Pù Huông rộng khoảng vài mẫu, có rất nhiều cây cổ thụ ken dày, ánh nắng mặt trời không lọt xuống đất. Không khí nơi đây lạnh lẽo khác thường.

Hầu hết di ảnh của thanh niên ở bản Chà Lủm đều gắn liền với nỗi đau ma tuý.

Đi thêm một đoạn, già Nắn chỉ vòng hoa rừng toàn màu trắng còn tươi nguyên nói: “Dọc ni có 11 ngôi mộ, toàn là những thằng còn trẻ, chưa vợ mô. Chúng đang ngực căng cánh nỏ, sức như con voi con báo rừng mùa động cái, rứa mà con ma tuý, con “ết” hắn quật cho nên phải nằm lại đây!”

Vi Văn Tắn sinh ra trong một gia đình ở bên con khe Líp xã Yên Tĩnh. Tuy là con trai một nhưng Tắn ngoan ngoãn và học giỏi. Tắn đã đem lòng yêu tha thiết cô gái Vi Thị Va nhà ở đầu bản. Chỉ còn mấy ngày nữa là Tắn thi đại học.

Tắn bàn với người yêu là thi xong đại học sẽ về cưới nhau. Sau một chầu nhậu quắc cần câu, đám bạn rủ “mần” một tí cho biết. Trong liêng biêng men rượu Tắn chặc lưỡi: “Sợ gì, mần thì mần”.

Tắn để cho đứa bạn dùng xi lanh chích heroin vào ven. Bơm tiêm chưa kịp rút ra, Tắn bỗng dưng ngã xuống đất giãy đành đạch, sùi bọt mép, rồi chết vì sốc thuốc! Mẹ Tắn khóc hết nước mắt, tiếng khóc của người mẹ vật vã như muốn xé cả màn đêm yên tĩnh.

“Như bán hàng đa cấp”

Vi Văn Di, một con nghiện mới đi cai về, ngậm ngùi kể cho chúng tôi rằng, những “quái” ma tuý thường dùng chiêu rủ đi nhậu để làm gia tăng con nghiện. Cứ thế, số lượng con nghiện tăng dần lên như kiểu bán hàng đa cấp.


Tương lai nhiều đứa trẻ ở bản mù mịt vì khói thuốc phiện.

Lô Văn Pin là chàng trai thông minh học giỏi. Đang học năm thứ nhất của một trường đại học ở Hà Nội, trong một lần về nghỉ hè, Pin đã lọt vào tầm ngắm của các quái nghiện ở bản. Chúng rủ Pin đi chơi, rồi mời hút thuốc lá, trong đó đã bị bỏ heroin. Chỉ mươi ngày là Pin dính “cước”. Đã dính rồi thì các quái nghiện dắt mũi thế nào chẳng được.

Vậy là tiền bố mẹ cho đi học Pin đốt tan thành khói trắng. Hết tiền, Pin bỏ học về bản giao du với những quái nghiện và cuối cùng nằm lại rú mồ khi mới hai mươi tuổi.

Ông Lâm Việt Minh - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Tĩnh - mắt nhoè nước, mắc nghẹn trong tiếng nấc, chỉ hai lùm cỏ xanh phía tây rú mồ: “Hai con trai tui là Lâm Văn Bích (SN 1980) và Lâm Văn Hơi (SN 1983) đã nằm đây. Chúng mới chết cách đây chưa lâu, vì nghiện ma túy rồi dính HIV/AIDS”.

Ông Minh cho biết thêm, mấy năm gần đây, xã Yên Tĩnh có tới 44 người chết vì “ết”. Từ năm 2008 đến nay, xã đã có hơn 11 trường hợp nằm lại dưới những nấm mồ. Trong số đó chủ yếu là chết trẻ. Một con số khiến người ta giật mình.

Theo Bee.net.vn

"Nâng cao sức cạnh tranh cho hàng Việt" , nhưng lại " Da giày, đồ gỗ: nhập 80% nguyên liệu".

TT - Nguyên liệu quan trọng nhất trong ngành da giày là da nhưng hiện nay VN đang phải nhập đến 80%. Tình trạng trên cũng xảy ra tương tự đối với ngành đồ gỗ. Điều này đã tác động không nhỏ đến sức cạnh tranh của những mặt hàng này ở ngay thị trường nội.

Công nhân dán đế giày tại DNTN giày Á Châu -Ảnh: THANH ĐẠM

Ông Mười Thành, chủ cơ sở giày Thành Danh (Q.6, TP.HCM) thừa nhận gần 20 năm đóng giày bỏ mối cho các chợ bán sỉ ở TP.HCM, loại giả da mà cơ sở ông mua của một nhà sản xuất trong nước vẫn không khác biệt so với ngày đầu ông vào nghề. “Quanh đi quẩn lại chỉ có loại giả da đóng cho giày nam, loại da dán simili cho giày nữ!”, ông Thành than thở.

Nhập khoen, móc, khóa...

Với các loại giày dép sử dụng chất liệu EVA, PU..., ông Nguyễn Đình Kim, giám đốc doanh nghiệp (DN) tư nhân giày Á Châu, cho hay DN cũng phải nhập vì trong nước chưa có nhiều khả năng để cung ứng các loại nguyên liệu có gốc hóa dầu. Còn nếu sử dụng chất liệu từ cao su, nguồn cung trong nước cũng trồi sụt thất thường.

“Nói nhiều hơn làm”

Câu chuyện làm sao để bớt phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu được các DN cho là “xưa như trái đất” nên chẳng muốn đề cập bởi đã “nói nhiều hơn làm”. Ví dụ điển hình trong ngành da giày là chương trình xây dựng cụm hoặc KCN cho ngành thuộc da đã bị “tắc” lâu nay. Nhiều đề án nuôi bò lấy da bị phá sản hoàn toàn. Theo ông Kiệt, Hiệp hội Da giày VN (Lefaso) đang có chương trình phối hợp với Hiệp hội Dệt may VN (Vitas) thành lập một khu công nghiệp dệt nhuộm - thuộc da. Tuy nhiên, lãnh đạo các tỉnh vẫn tỏ ra e ngại vấn đề môi trường.

Với dòng sản phẩm trung bình khá trở lên, ông Trần Đức Triều, giám đốc thương hiệu giày T&T, cho biết khó lòng sử dụng nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước do không đáp ứng độ tinh xảo cho đối tượng khách hàng cao cấp hơn. Theo ông Triều, do nhu cầu thị trường nội địa còn nhỏ, phần lớn DN vừa làm vừa thăm dò nên “không thể đặt mua một khối lượng lớn nguyên liệu để sản xuất hàng loạt như các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới”.

Riêng các loại phụ kiện tưởng chừng đơn giản như móc, khóa, khoen... dù một số được sản xuất trong nước, nhưng nếu xét về độ tinh xảo lẫn yếu tố an toàn cho người sử dụng thì hàng nội địa cũng bị hàng nhập lấn át. Còn những DN sản xuất phụ liệu đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế chỉ đủ cung ứng cho DN xuất khẩu.

Theo ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hội Da giày VN (Lefaso), nguyên liệu quan trọng nhất trong ngành sản xuất giày là da, hiện tại phải nhập khẩu trên 80% phục vụ sản xuất nội địa và xuất khẩu. Phần lớn DN sản xuất da trong nước đều nhập và chế biến từ da đã thuộc sẵn, số DN sản xuất khép kín từ da muối là rất ít. Đẳng cấp da sản xuất trong nước hầu hết ở mức chất lượng trung bình và trung bình khá. Ông Kiệt cũng cho rằng công nghệ sản xuất da phần lớn là công nghệ cũ. Do vậy khi đặt vấn đề thành lập các nhà máy sản xuất, nhiều tỉnh từ chối do lo ngại ảnh hưởng môi trường.

Nguy cơ từ sự phụ thuộc nguyên liệu

Ngành chế biến gỗ xuất khẩu mặc dù phát triển mạnh trong những năm gần đây, song tình trạng “đói” nguyên phụ liệu cũng tương tự như dệt may, da giày. Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (Hawa), việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu không chỉ ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho DN xuất khẩu VN mà còn dẫn đến nguy cơ lớn hơn là phá sản cả một ngành chế biến đầy tiềm năng phát triển. Các nhà nhập khẩu đã cảnh báo sẽ ưu tiên mua hàng, thậm chí mua với giá cao, đối với những nhà cung cấp có sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, thân thiện môi trường. Điều này sẽ là một thách thức lớn đối với VN.

Ông Thắng giải thích: “Các DN VN nhập khẩu gỗ từ Brazil phải chở về bằng tàu thủy và trên cả một đoạn đường đi dài đó biết bao nhiêu khí thải độc hại xả ra góp phần tạo nên hiện tượng trái đất nóng dần lên... Do đó, những nhà cung cấp đồ gỗ mà phải nhập khẩu nguyên liệu sẽ không còn nằm trong danh sách ưu tiên xem xét đàm phán như trước đây”.

Năm 2008, VN đã bỏ ra trên 1 tỉ USD để nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Chỉ tính riêng tại các cảng ở TP.HCM, bình quân mỗi tháng các DN phải nhập trên 10-30 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ.

Phân tích vì sao chưa thể xây dựng được một chiến lược bài bản cho vùng nguyên liệu gỗ, ông Nguyễn Chiến Thắng cho rằng đất đai để trồng rừng quá manh mún, nhiều nơi muốn trồng được phải bỏ chi phí quá lớn, trong khi thiếu chính sách khuyến khích. “Hiện tại cũng có người trồng rừng nhưng không phải cung cấp cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu mà chủ yếu dành cho ngành giấy. Trồng rừng để lấy gỗ phải mất 10-15 năm, nhưng đâu có ngân hàng nào cho vay chừng ấy năm. Mà vay 2-3 năm đã bắt đầu trả thì DN không dám đầu tư trồng rừng bởi vì không hiệu quả”, chủ tịch Hawa nói.

Ông Vũ Hoàng, phó tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên thương mại và chế biến gỗ Hưng Thịnh (Bình Phước), cho một ví dụ khác về sự bất cập này: “Cây gỗ ở một số nơi trên Tây nguyên rất tốt, khai thác được nhưng tính cả tiền vận chuyển vào thì giá thành cao hơn chúng tôi mua gỗ nhập khẩu tại TP.HCM”.

LÊ NGUYÊN MINH - TRẦN VŨ NGHI

Ngã vào TP.HCM của thực phẩm dơ

SGTT - TP.HCM là nơi tiêu thụ thực phẩm nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam, nhưng phải nhập từ nhiều nguồn, trong đó có cả nước ngoài. Công tác kiểm tra thực phẩm được giám sát khá chặt chẽ, qua nhiều đơn vị như chi cục Thú y, Quản lý thị trường, chi cục Bảo vệ thực vật, chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Y tế, đoàn kiểm tra liên ngành... Thế nhưng, ngoài số thực phẩm ghi nhận được trên sổ sách, có giấy chứng nhận, thì ngày ngày, một lượng không nhỏ thực phẩm “không tên”, thậm chí kém chất lượng vẫn luồn lách vào an toàn…

Chủ hàng tẩu tán heo bơm nước khi bị thú y phát hiện tại một cơ sở giết mổ gia công ở huyện Bình Chánh, TP.HCM

Theo chi cục Thú y TP.HCM, trung bình mỗi ngày, đơn vị này ghi nhận có tới trên 100.000 con gia cầm đưa vào thành phố giết mổ, ngoài ra còn có hàng ngàn con heo, trâu bò. Một số lò giết mổ tập trung như An Nhơn, Huỳnh Gia Huynh Đệ, Nam Phong, Vissan hay các cơ sở do tư nhân đầu tư đã được thú y kiểm soát khá chặt nguồn hàng đưa vào. Hai chợ đầu mối phân phối lớn nhất là Bình Điền (quận 8) và Tân Xuân (Hóc Môn), thịt heo đưa vào, xuất ra khỏi chợ đều có giấy chứng nhận kiểm dịch của thú y, do đó, đã loại thải ngay từ nguồn những con gia súc, gia cầm nghi ngờ bị bệnh.

Thế nhưng, do địa bàn giáp ranh với các tỉnh quá rộng, nên ông Phan Xuân Thảo, phó chi cục trưởng chi cục Thú y TP.HCM, thừa nhận thương lái vẫn tìm mọi mánh khoé đưa hàng kém chất lượng vào thành phố nên khó tránh khỏi việc heo lậu, heo chết, heo bệnh, heo bơm nước… có mặt trên thị trường, dù không nhiều.

Thực phẩm không sạch thâm nhập thành phố bằng nhiều con đường, có khi được chở trên xe gắn máy, ôtô, xe buýt, thậm chí đưa thẳng vào lò mổ, chợ đầu mối rồi trộn lẫn với thịt sạch để bán đến tay người tiêu dùng. Đồng Nai là địa phương cung cấp heo, gia cầm lớn nhất cho TP.HCM. Riêng thịt heo lên đến 40% nhu cầu. Thế nhưng, theo cơ quan thú y địa phương này, tình trạng giết mổ gia súc lậu vẫn diễn ra khá phổ biến, chiếm đến 50% sản lượng thịt cung cấp hàng ngày. Ông Hoàng Sơn Hải, chi cục trưởng chi cục Thú y Đồng Nai, cho biết do lực lượng thú y còn mỏng nên không thể quản lý xuể hoạt động giết mổ và kinh doanh heo lậu, heo chết trên địa bàn địa phương này. Và như vậy, việc có đến 50% lượng gia súc giết mổ lậu, nằm ngoài vòng kiểm soát của cơ quan thú y, trong đó không loại trừ thịt kém chất lượng vẫn có thể tuồn vào TP.HCM, bán đến tay người tiêu dùng.

Để tránh ăn phải thực phẩm dơ, cơ quan thú y khuyến cáo người tiêu dùng nên mua thịt có nguồn gốc rõ ràng. Thế nhưng, một con heo hay con gia cầm bệnh, cho dù thịt có thâm tím, lốm đốm đỏ, kể cả bốc mùi hôi, thì khi nó được “nguỵ trang” trộn lẫn với thịt sạch, bán chung một quầy thì người mua cũng khó nhận ra. Bà Đinh Thị Hồng Hạnh, trưởng trạm thú y huyện Bình Chánh, đơn vị thường xuyên phải đối mặt với thực phẩm dơ từ các tỉnh miền Tây đưa về còn thừa nhận, khi thực phẩm dơ đưa vào bếp ăn công nghiệp, quán cơm, nấu chín đun sôi lên thì người sử dụng chẳng thể nhận ra. “Nếu heo bị bơm nước, khi nấu miếng thịt sẽ tóp lại, nước ra nhiều, không có mùi vị”, bà Hạnh nói.

Liên Hiệp Quốc sẽ xét đơn khiếu kiện

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER - Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc gửi thư xác định đã nhận, và sẽ cứu xét, hồ sơ khiếu kiện về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống.” Ðơn khiếu nại do Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam gửi cho Hội Ðồng ngày 14 Tháng Năm, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng, đại diện ủy ban, xác nhận với Người Việt tin này. Ông Hùng cũng trao cho Người Việt bản chụp lá thư do chủ tịch Hội Ðồng Nhân Quyền (chief of Human Rights Council Branch), Eric Tistounet, gởi cho ông hôm 3 Tháng Tám, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng cho biết, sau nhiều tháng nghiên cứu, ủy ban xúc tiến việc nộp đơn khiếu kiện các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội, và đã đệ nộp đơn này theo thủ tục khiếu nại của Hội Ðồng. Thủ tục này được thiết lập theo Nghị Quyết 5/1 hồi năm 2007, nay được biết với tên gọi Thủ Tục 1503.

Từ Canada , Luật Sư Lâm Chấn Thọ, chuyên viên nghiên cứu về thủ tục pháp lý của ủy ban, cho Người Việt biết: “Ðây là bước đầu tiên của một thủ tục kéo dài mà tất cả những đơn khiếu nại về vi phạm nhân quyền của một quốc gia phải trải qua.”

Cũng theo Luật Sư Thọ, một quốc gia được xem là “vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống,” khi họ “vi phạm một công việc nhiều lần hoặc là vi phạm trầm trọng, chẳng hạn bắt bớ người không có lý do, bắt bớ nhiều người giam giữ lâu ngày mà không do một tòa án xét xử, hoặc là thủ tiêu người, hoặc là tra tấn tù nhân...”

Thư hồi đáp của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cho biết sẽ tiếp tục thông báo cho ủy ban biết kết quả đơn khiếu nại qua những chặng kế tiếp.

Sân golf “chiếm” đất vàng, đền bù rẻ mạt ?

Cập nhật lúc 22:16, Chủ Nhật, 30/08/2009 (GMT+7)
,

- Đền bù chưa xong, bỏ hoang đất công trong thời gian dài...nhưng sân golf An Phú (quận 2) lại liên tục xin "điều chỉnh quy hoạch" tăng số nền biệt thự nhằm mục đích kinh doanh.

Dự án tư nhân, áp giá “bèo” (?)

Tháng 1/2001, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Sài Gòn (viết tắt là SDI) được Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng trên 139 ha đất tại phường An Phú, quận 2 để đầu tư xây dựng Khu liên hợp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở (sau đây gọi tắt là sân golf An Phú – P.V)

Dự án sân golf An Phú sau đó được UBND.TP điều chỉnh lại cơ cấu sử dụng đất, diện tích còn lại là 137,4 ha (trong đó đất sân golf 100,4 ha; đất xây dựng nhà ở - biệt thự : 22 ha; đất giao xây khu tái định cư, dân cư: 15ha)

Mặc dù có vị trí “vàng” tại khu vực quận 2, TPHCM nhưng tới nay dự án vẫn ì ạch triển khai do vướng đền bù giải toả. Cuối năm 2008, số hộ bị ảnh hưởng là 312 hộ, chi trả bồi thường cho 200 hộ, diện tích 80,47 ha, đạt 57,56%.

Sân golf An Phú hiện vẫn chưa thực hiện xong đền bù giải tỏa..
Nguyên nhân khiến dự án gần 9 năm sau cấp phép “chôn” hàng trăm ha đất nông nghiệp là do giá đền bù quá thấp và cứng nhắc trong áp dụng. Giá đất nông nghiệp được “áp” tại dự án này là 150 – 200 nghìn đồng/m2 (theo phương án phê duyệt năm 2003), trong khi giá bồi thường dự án công ích (làm đường) tại khu vực quận 2 hiện nay cũng đã lên tới 1,5 triệu đồng/m2/đất nông nghiệp.

Điển hình là hộ ông Đặng Hoài Ký, nhận được quyết định bồi thường, hỗ trợ của UBND quận 2 cho diện tích đất trên 1.000 m2 với số tiền 151 triệu đồng và “quyền” được đăng ký mua căn hộ chung cư. Ông bức xúc: “Năm 2008 mới có quyết định bồi thường cho gia đình tôi, nhưng lại áp giá đền bù theo phương án từ năm 2003 là hết sức vô lý. Thử hỏi với 7 nhân khẩu, gia đình tôi sống ra sao với số tiền ít ỏi trên…”

Muốn bồi thường thêm cho dân cũng…tắc

Tháng 11/2005, UBND quận 2 có công văn gửi SDI đề nghị “tự thương lượng thoả thuận sang nhượng trực tiếp với các hộ dân có đất, vật kiến trúc, hoa màu trong dự án”. Tuy nhiên, ý kiến rất “thoáng” này của quận 2 gặp phản ứng gay gắt của Sở tài chính TPHCM tại công văn số 10442 /TC ngày 19/12/2005 khi cho rằng “..đề nghị này không phù hợp với quy định của pháp luật…Việc cho phép chủ đầu tư thương lượng…sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án đầu tư của Nhà nước trong khu vực quy hoạch này…”

Tương tự, gia đình ông Đỗ Văn Dậu (ngụ tại quận 1) có 1.015 m2 đất cũng được bồi thường ở mức 308 triệu đồng. Ông Dậu đã có đơn khởi kiện UBND quận 2 ra Toà hành chính (TAND.TPHCM) về việc ban hành quyết định áp giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại, cưỡng chế thu hồi đất không đúng quy định pháp luật…

Trong đơn gửi VietNamNet, nhiều hộ dân khác cùng chung bức xúc: “Giá đền bù và giá cả thị trường trong gần 9 năm qua thay đổi chóng mặt nhưng UBND quận 2 cùng chủ đầu tư vẫn đền bù theo khung giá cũ, bỏ qua các quy định mới của UBND.TP, của Chính phủ”

“Đây là dự án với những hạng mục, công trình đầu tư của một số cá nhân nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận từ các dịch vụ thể thao cao cấp, xây biệt thự cho thuê, phân lô bán nền không phục vụ cho cộng đồng người dân mà lại áp giá đền bù theo Nghị định 22/CP năm 1998 quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…là hết sức phí lý”

Về mức giá đền bù, trả lời VietNamNet, đại diện phía chủ đầu tư công ty SDI xin không bình luận, mà cho rằng trách nhiệm của chủ đầu tư là cung cấp tài chính, còn việc giải toả đền bù đã được UBND.TP giao cho địa phương ?

Tuy nhiên lý giải này mâu thuẫn với điều 8 - Bản chấp thuận đầu tư (do Sở kế hoạch & Đầu tư cấp ngày 7/12/2000) ghi rõ công ty SDI: “Thông qua chính quyền địa phương để đền bù cho dân theo thoả thuận” và “…có trách nhiệm phối hợp với các Sở - ngành chức năng có liên quan để thực hiện việc đền bù nhằm bảo đảm quyền lợi cho dân”

Trên thực tế, theo phản ảnh của người dân, trong gần 9 năm qua, chỉ có 1 cuộc họp duy nhất giữa Ban bồi thường giải phóng mặt bằng với người dân, chưa từng có một cuộc thương lượng, thoả thuận nào như trong phương án mà UBND quận 2 và chủ đầu tư “hứa hẹn” ?

Đằng sau “điều chỉnh quy hoạch” là…nền biệt thự ?

Một đại diện có trách nhiệm của công ty SDI cho rằng có nhiều nguyên nhân “khách quan” khiến dự án liên tục phải điều chỉnh quy hoạch (việc xử lý nợ của công ty Việt Hà, UBND.TP giao làm khu tái định cư – dân cư 15 ha..) và các thủ tục hành chính “nhiêu khê” từ các cơ quan hành chính khiến dự án không thể triển khai như mong muốn…

Tuy nhiên trên thực tế, chính công ty SDI đã liên tục “đề xuất” việc điều chỉnh quy hoạch theo theo hướng có lợi cho họ. Đó là việc liên tục xin tăng tăng số nhà biệt thự trong khu quy hoạch 22 ha từ 50 căn lên tới 100 căn, 164 rồi 193 căn và xây dựng hàng loạt nhà liên kế, chung cư cao tầng.

Cụ thể, tháng 1/1999, UBND.TP có công văn 329 cho công ty TNHH Thiên Hải (công ty mẹ của SDI) đầu tư sân golf tại khu Rạch Chiếc, quận 2, trong đó quy định “ngoài khu sân golf, chủ đầu tư được xây dựng không quá 50 biệt thự..”

Tiếp đó, tại quyết định số 4530 ngày 12/7/2000 của UBND.TP cũng nói rõ chủ đầu tư – công ty SDI được xây dựng khu biệt thự 50 căn và không cao quá 3 tầng (12m), mật độ xây dựng tối đa 30%.

Tháng 1/2001, Thủ tướng Chính phủ có quyết định cho phép SDI thực hiện dự án Khu liên hiệp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở phường An Phú, quận 2, trong đó yêu cầu UBND.TP có trách nhiệm: “…Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng đất, kiến trúc xây dựng và bảo vệ môi trường theo đúng quy định hiện hành”

Ngay sau đó công ty SDI có công văn đề nghị UBND.TP cho “điều chỉnh” số lượng biệt thự trong dự án từ 50 căn lên thành 100 căn. Việc này được UBND.TPHCM chấp thuận vào thời điểm tháng 5/2001 và đề nghị công ty liên hệ cơ quan chức năng điều chỉnh dự án.

Thế nhưng chính SDI lại “quên” luôn việc điều chỉnh quy hoạch như tinh thần công văn “cho phép” của TPHCM mà kéo dài tới tháng 4/2006 để ra một công văn khác (số 03 ngày 14/4/2006) cho rằng “chỉ tiêu xây 50 căn biệt thự trên phần đất đã giao 22 ha như dự kiến ban đầu sẽ gây nên một sự lãng phí tài nguyên rất lớn, chi phí xây dựng cao, chắc chắc sẽ giảm sức cầu – gây ảnh hưởng lớn đến tính khả thi của dự án”. Đồng thời SDI “mạnh dạn” xin “điều chỉnh quy hoạch” lên thành 193 biệt thự và căn hộ liên kế vườn cao cấp ?

Có vẻ vẫn chưa ổn, chưa đầy 1 tháng sau (tháng 5/2006) công ty SDI lại ra công văn “đề xuất ” xin UBND.TPHCM điều chỉnh quy hoạch nhằm “chi tiết hoá” phần bất động sản tại khu dự án 22 ha. Cụ thể, thay vì 193 căn biệt thự như đề xuất, công ty rút lại còn 164 căn (diện tích từ 600- 2000m2/căn, 1- 2 tầng), nhưng “cụ thể hoá” số nhà liên kế sân vườn lên 29 căn (200m2/căn, 3 tầng) một khu căn hộ cao tầng (132 căn). Tổng cộng có 325 hộ gia đình với diện tích sàn xây dựng lên tới 102.540m2.

Gần 1 năm sau (tháng 4/2007) kiến nghị của SDI được Sở quy hoạch kiến trúc TPHCM trình UBND.TP xem xét và ngày 08/01/2008, văn phòng HĐND và UBND.TP ra thông báo chấp thuận phương án đề xuất điều chỉnh của Sở, cho phép SDI điều chỉnh cơ cấu sự dụng đất và quy mô dân số tại khu 22 ha nêu trên.

Như vậy, rất dễ hình dung, dự án sân golf An Phú của SDI kéo dài một phần do chính công ty này điều chỉnh qua lại phần 22 ha, nhằm tăng số biệt thự, nhà ở nhằm nhắm tới mục đích lợi nhuận trong kinh doanh địa ốc

Hậu quả là dự án bị kéo dài thời gian, cả trăm ha đất bị bỏ hoang.Người dân phải nhận khoản đền bù ít ỏi, khác xa giá trị thật của mảnh đất họ đang quản lý, sử dụng..

  • Thái Thiện – Thu Lý


Sunday, August 30, 2009

Doanh nghiệp bỏ mặc, người lao động kêu trời


Lao Động số 193 Ngày 28/08/2009 Cập nhật: 9:26 AM, 28/08/2009
NLĐ tập trung tại cổng trụ sở Vinamoto-Traco để đòi tiền.
(LĐ) - Trong những ngày qua, hàng chục LĐ tại các tỉnh thông qua Cty Vinamoto-Traco đăng ký làm thủ tục đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) tại CH Czech từ tháng 12 năm 2007, nhưng đến nay vẫn chưa được xuất cảnh đã tập trung tại trụ sở của Cty tại 609 đường Trương Định (Hà Nội) để đòi tiền đặt cọc, nhưng đã không nhận được sự hợp tác của lãnh đạo Cty.

Nộp tiền vào thì dễ...

Theo anh Nguyễn Văn Lịch - trú tại Thường Tín, Hà Nội - thì tháng 10.2007, thông qua giới thiệu của Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên, Tỉnh đoàn Hà Tây (cũ), anh đến Trung tâm XKLĐ của Cty Vinamoto-Traco địa chỉ tại NVC10 khu đô thị Trung Hòa, Nhân Chính, Hà Nội, để đăng ký đi xuất khẩu lao động tại CH Czech. Sau khi đăng ký, anh và nhiều LĐ đã được hướng dẫn làm hồ sơ, đồng thời được học tiếng và học nghề trong thời gian 3 tháng với số tiền học phí là 2.050.000 đồng/học viên và phải đặt cọc số tiền 16.030.000 đồng (tương đương với 1.000USD).

Theo hợp đồng ký kết giữa Vinamoto-Traco và NLĐ, để được xuất cảnh sang lao động tại CH Czech, mỗi LĐ phải nộp cho Cty 9.200USD cho các khoản chi phí như: Vé máy bay, lệ phí sân bay, visa, phí môi giới, tiền đặt cọc chống trốn và quỹ hỗ trợ rủi ro... Sau khi hoàn thành khóa học và đặt cọc tiền, NLĐ đã được ông Lê Quang Dực - GĐ trung tâm - cho biết đã hoàn tất thủ tục để sang làm việc tại Cty Daikin của CH Czech với thời hạn 3 năm và sẽ xuất cảnh trong vòng 4-6 tháng tới. Nếu không xuất cảnh được thì NLĐ có quyền rút hồ sơ và tiền đã nộp cho trung tâm, được trả lãi theo lãi suất của ngân hàng.

Do chờ mãi không được xuất cảnh, một số LĐ đã liên hệ với ông Dực và được ông Dực cam kết nếu hết tháng 10.2008 Cty không xác định được lịch bay cho NLĐ, thì sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền mà NLĐ đã nộp cho Cty. Để hoàn tất hợp đồng một cách nhanh chóng, trong vòng 1 tuần (từ 12-20.5.2008) NLĐ phải nộp cho Vinamoto-Traco 3.500USD thì bản cam kết mới có tác dụng.

Để có tiền nộp, nhiều LĐ phải đi vay ngân hàng hoặc vay với lãi suất cao bên ngoài để có tiền nộp cho Cty. Tuy nhiên, khi nộp tiền NLĐ chỉ được Cty ghi giấy biên nhận chứ không có hóa đơn thu tiền.

Gần 2 năm chờ đợi và đi đòi nợ, NLĐ đã nhận được câu trả lời của GĐ Cty Lê Quang Dực là Cty hết tiền nên không thể trả NLĐ.

... đòi tiền lại quá khó


NLĐ đã làm đơn kêu cứu gửi lên Cục Quản lý LĐ ngoài nước (Bộ LĐTBXH) và PC15 - CA TP.Hà Nội nhờ can thiệp giúp đỡ, nhưng phía Cty vẫn chưa có trả lời chính thức với NLĐ. Quá bức xúc, từ ngày 24.8 nhiều LĐ đã tập trung tại trụ sở Cty để đòi nợ và đã được ông Đoàn Mạnh Cường - GĐ mới của Cty - tiếp.

Ông Cường cho biết, hiện tại ông Dực chưa bàn giao hết nên phải chờ khi nào bàn giao hết thì Cty sẽ có kế hoạch trả tiền cho NLĐ. Tuy nhiên, NLĐ không chấp nhận với đề nghị đó.

Chiều 25.8, toàn bộ Cty đóng cửa không làm việc, bỏ mặc NLĐ chầu chực bên ngoài. Anh Đỗ Văn Nguyên - quê ở Duyên Hải, Hưng Hà, Thái Bình - bức xúc cho biết thêm: Chỉ trong vòng một thời gian ngắn mà Cty đã chuyển đến 3 địa điểm khác nhau, nhưng không hề có thông báo với NLĐ. Chúng tôi chia sẻ khó khăn, nhưng Cty hứa hẹn vòng vo đã làm NLĐ mất lòng tin".

Để tìm hiểu rõ vấn đề, PV Báo Lao Động đã liên lạc với ông Lê Quang Dực, nhưng tất cả những số điện thoại mà NLĐ cung cấp đều tắt máy. Phần lớn những LĐ đi XKLĐ đều là những LĐ nghèo, phải vay mượn mới đủ tiền nộp cho Vinamoto-Traco với hy vọng sau vài năm LĐ tại nước bạn về có một lưng vốn để cải thiện kinh tế gia đình. Nhưng đến nay, sự đổi đời chưa thấy đã thấy nợ nần chồng chất.

Đặng Tiến

Có ai biết đồng chí Việt Kiều làm theo lời Bác naỳ không?


Doanh nhân Việt kiều Mỹ Calvin P. Tran:
Thế giới còn hào hứng đầu tư vào VN nữa là kiều bào...

Lao Động Cuối tuần số 35 Ngày 30/08/2009 Cập nhật: 7:40 AM, 30/08/2009
Ông Calvin P.Tran.
(LĐCT) - "Niềm tin của doanh nhân kiều bào vào sự phát triển của Việt Nam mạnh lắm. Thế giới còn hào hứng đầu tư vào VN, thì làm sao những người con của đất Việt lại có thể đứng ngoài?

Đó là lý do tôi trở về đầu tư trong nước, để được trực tiếp tham gia vào tiến trình phát triển của VN", ông Calvin P.Tran - doanh nhân gốc Việt tại California, Mỹ - bộc bạch với PV Lao Động.

Trong lúc nhiều người đang nuôi "giấc mơ Mỹ", được sống ở Mỹ, còn ông lại từ bỏ cuộc sống đó để trở về VN. Vì sao vậy?

- Khủng hoảng toàn cầu khiến đa số Việt kiều nhìn thấy ở VN sự mở cửa, thông thoáng kinh tế. Tôi là một doanh nhân kiều bào, và nói thật, tôi thấy sống ở VN rất sung sướng. Tôi cũng đã từng rời bỏ VN ra đi, do những tuyên truyền lệch lạc về chế độ cộng sản. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy những người cộng sản rất tốt, rất dễ thương và tôi trở về nước.

Tôi không phủ nhận còn rất nhiều kiều bào nghi ngại và chưa dám về. Vấn đề chính là niềm tin. Khi ra đi, chúng tôi mất niềm tin nhưng giờ đây niềm tin vào sự phát triển của VN mạnh lắm. Thế giới còn hào hứng đầu tư vào VN, tại sao những người con của nước Việt lại đứng ngoài? Đó là lý do tôi trở về.

Vậy tâm trạng của ông khi trở về nước lần đầu như thế nào?

- Vào tháng 8.1990, tôi quyết định trở về VN sau 13 năm sống tại Mỹ. Tôi lo lắng chứ. Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Cái tôi nhớ nhất là cảm giác bức bối đến khó thở vì ô nhiễm khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi còn ngạc nhiên khi thấy người dân sao nóng tính quá, họ sẵn sàng gây lộn, dù chỉ là một sự cố rất nhỏ ở trên đường. Do làm trong ngành công nghệ thông tin, nên đi đâu tôi cũng hỏi có máy vi tính không?

Nhưng thời kỳ đó, VN còn lạc hậu lắm, đâu có sẵn máy vi tính như bây giờ. Và tôi như một người lính bị tước vũ khí vậy. Tôi đã xin nghỉ phép tại Mỹ để dự định về VN trong hai năm, nhưng do không thích nghi được với môi trường trong nước nên một tháng sau tôi đã trở về Mỹ.

Trên máy bay, tôi suy nghĩ rất nhiều. Vì 13 năm trước, tôi cũng sống trong bầu không khí nóng bức như vậy, với người dân như vậy mà tôi không thấy có vấn đề gì. Tại sao chỉ hơn chục năm sống ở nước ngoài mà tôi đã thay đổi. Tôi có nên chạy trốn khỏi quê hương, chỉ vì đất nước còn nghèo không? Những câu hỏi đó làm tôi thấy nặng nề.

Thật bất ngờ, chỉ vài ngày sau khi về Mỹ, văn phòng của Bộ Công nghiệp Nặng tại TP Hồ Chí Minh khi đó gửi bản fax mời tôi về làm việc, với mức lương 80USD/tháng. Tôi vui mừng, bởi nhận thấy đất nước thực sự đang cầu thị, cần những người có thể chuyển giao kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ. Dù mức lương 80USD là quá nhỏ so với khoản lương bên Mỹ của tôi khi đó là 4.000USD, nhưng tôi muốn được cống hiến cho đất nước. Và một tháng sau, tôi lại trở về VN.

Là người đầu tư nhiều vào lĩnh vực giáo dục, ông nghĩ sao khi VN đang báo động về khan hiếm nguồn nhân lực cao, dù có dân số trẻ và luôn được đánh giá là thông minh?

- Vào năm 2000, tôi nhận thấy nhân lực trẻ của VN trong ngành công nghệ thông tin mà tôi giảng dạy giỏi kinh khủng. Có nhiều người từng là sinh viên của tôi hồi năm 1990, vậy mà chưa đầy 10 năm sau, tôi đã phải phục họ làm thầy. Tôi học rất nhiều từ họ. Họ làm tôi muốn về VN, được tham gia vào quá trình phát triển của đất nước.

Nhưng tôi cho rằng, nền giáo dục VN cần cải tổ càng sớm càng tốt. Thật sự rằng, hầu hết các cử nhân sau bốn năm ở đại học đều không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng. Khung giảng dạy của Bộ Giáo dục Đào tạo quá nặng và không thực tế. Cần hướng các em vào chuyên ngành, và tạo được môi trường sinh hoạt chuyên ngành cho các em. Ngoài ra, còn có trách nhiệm của gia đình nữa.

Tôi nói thế này, nhiều em học đại học mà về vẫn làm nũng bố mẹ, phụ thuộc vào bố mẹ. Người VN luôn cho rằng con mình dù có lớn thế nào vẫn là trẻ nhỏ trong vòng tay cha mẹ. Đó là tâm lý chính khiến các em hay thụ động và ỉ lại vào bố mẹ mỗi khi có khó khăn. Sinh viên VN học rất nhiều, biết rất nhiều, nhưng hiểu thì không được bao nhiêu. Và điều này khiến khi ra đời, các em chỉ là những người tiếp nhận thụ động kiến thức, chứ không chủ động sử dụng nó.

Ông Calvin P.Tran từng là Hiệu trưởng Silicon Technology College tại Mỹ (1994-2001). Hiện ông là Chủ tịch HĐQT Công ty CP IMPACT tại Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quan hệ Giáo dục Quốc tế (INTECT).

Một câu hỏi cũ, ông nhìn nhận như thế nào về môi trường đầu tư trong nước?

- Tôi biết, chính sách của VN ở trung ương rất tuyệt vời. Tôi đã tiếp xúc với nhiều quan chức cấp cao của VN, họ rất cởi mở và thực sự cầu thị. Nhưng cứ về đến cơ sở, địa phương là nản lòng lắm. Hiện nhiều doanh nhân Việt kiều rất mong muốn về VN làm việc, vì họ thấy có nhiều cơ hội. Nhưng khi về VN, họ rất nản lòng do hành chính nhiêu khê.

Làm kinh doanh ở VN đều có cơ chế xin và cho, đều phải đi cửa sau. Các bộ, ngành giờ có rất nhiều người trẻ, có học thức, nhưng lại ít quyền hạn. Ơ Mỹ, để xin một giấy phép hành chính, chỉ cần 30 phút là xong. Trong khi đó, ở VN, vừa về nước họ đã vướng phải núi hành chính khổng lồ mà không biết khi nào mới vượt qua.

Ông vẫn thường kể câu chuyện là Việt kiều người Nam đầu tiên đầu tư ra miền Bắc, như một ví dụ thú vị cho sự thất bại do không tìm hiểu kỹ văn hoá vùng miền?

- Năm 2000, tôi có một người học trò lớn tuổi và được giới thiệu để làm ăn với một đối tác ở miền Bắc. Khi đó tôi rất lo sợ, vì chưa từng bao giờ đến miền Bắc và luôn bị doạ phải "cẩn thận, vì về là sẽ bị nhốt, bị công an bắt". Nhưng khi đặt chân đến miền Bắc rồi, tôi rất thích. Người miền Bắc, nhất là tuổi trẻ, có thể thích nghi được với lối sống mới, với cách làm việc của Tây phương rất nhanh. Nhưng đôi khi người Nam không hiểu được sự khéo léo của miền Bắc.

Khi bàn luận với các đối tác miền bắc, mọi người rất lịch sự và thường nói: Rất cảm ơn anh, để chúng tôi xem lại. Nhưng cái "xem lại đó" thì không biết đến bao giờ. Còn trong Nam, nếu được, họ sẽ đồng ý ngay và ký hợp đồng hoặc hẹn lịch cụ thể làm việc lần tiếp. Trong suốt hai năm trời theo đuổi đầu tư ở miền Bắc, tôi đã phải bán một căn nhà ở Mỹ để trang trải nợ nần, nhưng thất bại hết. Sau đó, tôi phải rút về Mỹ, chỉnh đốn lại nguồn vốn và một năm sau trở lại TP Hồ Chí Minh.

Tại Hội nghị thành lập Hiệp hội Doanh nhân Việt kiều, ông từng đề cập đến sự tiêu pha nhiều khi lãng phí của người Việt. Ông có thể nói rõ hơn?

- Tôi muốn đưa ra ví dụ thế này, để lấy được của người Mỹ một đồng cũng khó, nếu như chất lượng dịch vụ không đúng như số tiền họ bỏ ra. Họ biết một tháng mình kiếm ra bao nhiêu, phải tiêu bao nhiêu và có thể dành dụm bao nhiêu. Nếu tiêu lạm khoản tiền, họ chẳng kiếm đâu ra thêm để trả cho các chi phí khác.

Còn những người mới giàu ở Việt Nam hiện nay nhiều khi sẵn sàng quẳng đi hàng triệu đồng chẳng tiếc, dù biết rằng đó là lãng phí. Nếu hiện nay một người Việt kiều nào đó về mà dám nói rằng mình giàu có, thì đúng là người chẳng hiểu gì về VN. VN có nhiều người rất giàu.

Điều này liệu có là lý giải cho mốt dùng hàng hiệu đang trở nên phổ biến ở VN, dù VN vẫn chỉ là nước nghèo?

- Đã có nhiều người đi tìm hiểu vì sao vào thời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới, hàng loạt các trung tâm thời trang sang trọng lại được khai trương ở VN. Các nhà đầu tư rất giỏi trong việc nắm bắt thị hiếu người dân. Thực tế là có một tầng lớp những người giàu tại Việt Nam rất thích xài hàng hiệu để được thấy là sành điệu.

Tôi cũng thích mặc hàng hiệu, nhưng không phải vì tên tuổi hay độ hào nhoáng của các hãng thời trang, mà bởi vải của nó tốt và bền. Tôi chọn đồ hiệu vì tâm lý "ăn chắc, mặc bền" và chỉ mua vào các đợt bán hạ giá, chứ không phải bởi tâm lý một bộ cánh đẹp giúp nâng vị thế của tôi trên xã hội.

Có vẻ ông đang nói đến căn bệnh sính ngoại?

- Đúng là như vậy. Nhiều cửa hàng đắt tiền chút khi thấy người ăn mặc bình thường bước vào là coi thường ngay. Người VN rất quan tâm đến vẻ bề ngoài. Nhưng ở phương Tây thì một ông bác sĩ, kỹ sư hay một cô quét đường cũng được trọng thị giống nhau trong xã hội. Vì cần phải có cô quét đường dọn dẹp hết rác bẩn, thì các ông bác sĩ hay kỹ sư mới được sống trong môi trường sạch sẽ.

Không chỉ có người Việt trong nước, mà người Việt ở đâu trên thế giới cũng có tính sính ngoại. Khi ở Mỹ, tôi có tổ chức lớp đào tạo về máy tính cho những học sinh người Việt nghèo mới sang.

Sau 3 ngày học lý thuyết, tôi yêu cầu các sinh viên đó tự lắp ráp máy tính và tôi liên hệ một số cửa hàng của người Việt để chọn bộ phận lắp ráp cho rẻ. Nhưng những tiệm đó tiếp đón thầy trò chúng tôi rất hời hợt, dù biết chắc tôi sẽ mua hàng của họ. Trong lúc thầy trò tôi ở đó, có một người Mỹ da trắng bước vào, người bán hàng lập tức nhiệt tình chỉ dẫn. Ông này sau đó ra về tay không.

Còn ở VN, có lần tôi đi cùng một đối tác đến gặp một cán bộ cao cấp. Trời quá nóng, nên tôi sơ suất để hở cúc áo cổ. Khi về, đối tác của tôi nhắc nhở: "Anh hôm nay mặc áo hở cúc, nhưng chắc do anh là Việt kiều nên quen với phong cách bên kia". Chuyện đó để thấy, nếu một người Việt trong nước mà ăn mặc như tôi thì sẽ bị quy ngay là không lịch sự, bị đánh giá vào nhân cách ngay. Nhưng vì tôi là Việt kiều, từ Mỹ về nên họ chặc lưỡi bỏ qua vì cho rằng "ở bển họ quen thế".

Xin cảm ơn ông!

An Mỹ thực hiện

An ninh Việt Nam bắt giữ thêm một blogger (?)

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-security-agency-arrests-blogger-nguoi-buon-gio-tvan-08292009110622.html/vtvan08292009.mp3/download.html
2009-08-29

Hai ngày sau khi blogger Osin – nickname trên Internet của nhà báo Huy Đức - cho biết đã thôi làm báo, một số blog và diễn đàn điện tử loan báo, sáng 27 tháng 8, cơ quan an ninh điều tra đã triệu tập blogger Người Buôn Gió đến làm việc về những vấn đề an ninh quốc gia và đến 8 giờ tối cùng ngày, cơ quan an ninh điều tra đã áp giải blogger Người Buôn Gió về tư gia, đọc lệnh khám xét nhà...

RFA PHOTO

Giao diện trang Blog Osin.

Thông tin này chính xác tới mức nào, Trân Văn tìm hiểu và tường trình...

Vào lúc này, Người Buôn Gió đang là một blog thu hút sự chú ý của nhiều người Việt cả trong lẫn ngoài nước. Rất nhiều bài viết của blogger Người Buôn Gió đã được các blog, diễn đàn điện tử, website Việt ngữ dẫn lại, đặc biệt là loạt phiếm luận nhiều kỳ mang tên chung: “Đại Vệ Chí Dị”.

Phiếm luận “Đại Vệ Chí Dị”

Người Buôn Gió đã dựa theo “Đông Chu Liệt Quốc” – một bộ tiểu thuyết nổi tiếng của Trung Quốc để phóng tác “Đại Vệ Chí Dị”.

Nếu “Đông Chu Liệt Quốc” chỉ kể về giai đoạn lịch sử kéo dài khoảng 400 năm hồi trước Công nguyên ở Trung Quốc thì trong “Đại Vệ Chí Dị” của Người Buôn Gió, người ta thấy một Đại Vệ khác bạc nhược, ươn hèn, cam tâm khuất phục một Tề quốc ngang ngược với lắm dã tâm và dưới ngòi bút của Người Buôn Gió, quan hệ giữa Đại Vệ với Tề Quốc dễ khiến người ta liên tưởng đến quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Xin dẫn đoạn kết trong “Đại Vệ Chí Dị” kỳ mới nhất để quý vị dễ hình dung: Các tướng lãnh ra về. Vệ Vương ưu tư đi trong điện. Lát sau ngài đợi cho cung điện vắng vẻ, ra sân vọng về hướng Bắc niệm thần chú hộ mệnh. Những tên lính hầu trong điện đang thực hiện nghi lễ đổi phiên gác mới. Bầu trời dần lên từ phía Đông, nước Vệ bắt đầu một ngày bằng những tia ánh sáng mặt trời đỏ thẫm như máu khô của những ngư dân chết trên biển vì đạn quân Tề. Trong ánh sáng của mặt trời đi qua biển Đông có cả mùi tanh tanh của máu.

Bầu trời dần lên từ phía Đông, nước Vệ bắt đầu một ngày bằng những tia ánh sáng mặt trời đỏ thẫm như máu khô của những ngư dân chết trên biển vì đạn quân Tề. Trong ánh sáng của mặt trời đi qua biển Đông có cả mùi tanh tanh của máu.

Trích dẫn trong “Đại Vệ Chí Dị”

“Đại Vệ Chí Dị” đã gây tiếng vang rất lớn trên Internet và trong công chúng. Ở các cuộc thảo luận trên nhiều blog, nhiều diễn đàn điện tử, khi đề cập đến chính quyền Việt Nam, nhiều người Việt đã tự đổi quốc hiệu Việt Nam thành “Vệ”.

Ngoài “Đại Vệ Chí Dị”, Người Buôn Gió còn tham gia ý kiến, bình luận nhiều vấn đề thời sự khác, kể cả chủ trương, chính sách của Đảng, của chính quyền.

Vì liên quan đến Thái Hà?

Trở lại với thông tin về việc blogger Người Buôn Gió bị bắt. Theo một số blog và diễn đàn điện tử, tối 28 tháng 8, khi thực hiện lệnh khám xét nơi ở của blogger Người Buôn Gió, cơ quan An ninh Điều tra đã niêm phong, tịch thu hai máy tính của blogger này và một số giấy tờ. Những nguồn tin liên quan đến sự kiện vừa đề cập kể thêm rằng, lý do cơ quan an ninh điều tra bắt blogger Người Buôn Gió là vì blogger này “có liên quan đến việc in ấn áo và viết các bài viết về tình hình tại Thái Hà, Tam Tòa”.

Vì việc bắt giữ Người Buôn Gió được cho là có liên quan đến Thái Hà nên chúng tôi đã liên lạc với linh mục Nguyễn Văn Khải, Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà:

Trân Văn: Thưa linh mục, có tin là một blogger tại Việt Nam với nickname là Người Buôn Gió mới bị bắt do có liên quan đến Thái Hà và Tam Tòa. Linh mục có biết gì về trường hợp này không ạ?

LM Nguyễn Văn Khải: Anh Người Buôn Gió đang sinh sống tại Hà Nội. Anh ta là một dự tòng, đang học Giáo lý Công giáo để gia nhập Giáo hội.

Trân Văn: Thưa linh mục, trên Internet có tin rằng blogger Người Buôn Gió đã bị bắt do có liên quan đến những vụ việc xảy ra tại Thái Hà và Tam Tòa. Linh mục đánh giá những thông tin này như thế nào ạ?

LM Nguyễn Văn Khải: Tôi thấy anh ta viết bài về Tam Tòa và đưa lên mạng Internet, tôi có đọc và tôi biết. Nếu nói anh ta liên quan đến Thái Hà thì chẳng có liên quan nào trực tiếp đến Thái Hà cả.

Tôi có nghe một anh bạn nói rằng, anh Người Buôn Gió liên quan đến việc in trên áo mình mặc những khẩu hiệu yêu nước: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam đấy.

LM Nguyễn Văn Khải

Trân Văn: Một blog khác có đề cập Người Buôn Gió in ấn gì đó. Những thông tin như thế được cho là từ cơ quan an ninh Việt Nam đưa ra. Linh mục đánh giá như thế nào về tính chính xác của nó ạ?

LM Nguyễn Văn Khải: Tôi có nghe một anh bạn nói rằng, anh Người Buôn Gió liên quan đến việc in trên áo mình mặc những khẩu hiệu yêu nước: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam đấy. Tôi nghĩ rằng việc anh ta bày tỏ lòng yêu nước một cách cao đẹp như vậy, một cách cụ thể như vậy là điều tốt! Và tôi không nghĩ rằng, một chính quyền biết tôn trọng luật pháp, biết bảo vệ quyền lợi của dân tộc của đất nước mà lại đi bắt những công dân bày tỏ lòng yêu nước một cách cụ thể, sinh động và cao đẹp như vậy.

Ru con nước Vệ

Từ khi xuất hiện trên Internet, giống như nhiều blogger khác, Người Buôn Gió chỉ tồn tại như một nhân vật ảo, không tên tuổi thực, không nơi cư trú, song cách nay, vài ngày, Người Buôn Gió đột ngột tự bạch về mình: Tên thật của ông là Bùi Thanh Hiếu, ngụ tại 22 ngõ Phất Lộc, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Vì sao? Bài viết mới nhất của ông, mang tựa là Ru con nước Vệ, có thể giúp mọi người tự tìm câu trả lời. Mời quý vi cùng nghe...

Có thể lắm chứ!... Kẻ sĩ có người từng cay đắng nói rằng. Ở xã hội này mỗi công dân là một người tù dự khuyết.

Có thể lắm chứ!... Vào một ngày nào đó, ở nước Vệ xa xăm mãi ngoài giáp biển kia, tên Lái Gió sẽ bị công sai triều đình đến đóng gông xiềng, dẫn giải về lao chịu tội. Tội gì thì nước Vệ có nhiều lắm !...

Con trai của Lái Gió lủi thủi bám tay mẹ đi thăm bố. Như cách đây 35 năm Lái Gió bám tay mẹ mình đi thăm bố trong nhà lao. Lúc ấy hình như Lái Gió cũng bằng con trai của hắn bây giờ… Định mệnh có thể lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Trong nhà lao nước Vệ, Lái Gió không có tiền để mua quà cho con, có thể hắn chỉ còn cách viết thơ về cho con. Như nhiều năm xa xưa hắn đã từng viết thơ cho mẹ già vậy. Lời thơ cho con có thể rằng:

À ơi ! cái cò mày ngủ cho ngoan

Bố còn gánh nợ trần gian chưa về… à ơi!...

Trần gian cay đắng trăm bề

Bởi chưng phận bọt… à ơi!...

Bởi chưng phận bọt… mà ê chề nhớ con!...

À ơi !...

Con ơi ! sóng đánh mạn thuyền

Gió thì phiêu bạt tận miền xa xăm

À ơi !...

Đèo cao, núi thẳm, rừng ngàn

Bố đi lòng chất muôn vàn thương con

À ơi !...

Chúng tôi đã cố gắng liên lạc với ông Bùi Thanh Hiếu cũng như thân nhân của ông để tìm kiếm thêm thông tin nhưng không thành công nên chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và tường trình thêm về số phận của blogger Người Buôn Gió.

Communist Body Count

The following estimates represent citizens killed or starved to death by their own Communist governments since 1918. These numbers do not include war dead. The governments are sorted by body count (highest to lowest).

All numbers are mid-estimates.

While this list is as complete as I have been able to determine, it is evolving. Some numbers are incomplete and there are still five Communist countries that have the potential to kill more of their citizens. Over the next year, each government will be profiled in detail on this website.

A detailed bibliography is listed at the end of this page. Feedback is more than welcome.


Communist Body Count: 149,469,610
border

Rank
Country
1
China Flag
People's Republic of China
Body Count: 73,237,000
1949-Present (57+ years and counting)

R.J. Rummel originally estimated China's body count between between the years of 1949-1987 to be 35,236,000 (Rummel 1994). This excluded 38,000,000 million that died of famine during the Great Leap Forward. After the release of Mao: The Unknown Story, Rummel became convinced that the Chinese government was directly responsible for the famine, thus increasing his original estimate by 38,000,000 (Rummel 2005). 1,000 was added for Tienanmen Square in 1989 (Courtois 1999).
2
USSR Flag
Union of Soviet Socialist Republics
Body Count: 58,627,000
1922-1991 (69 years)

The body count only covers the years 1923-1987 (Rummel 1996).
3
Russia Flag
Russian Soviet Federated Socialist Republic
Body Count: 3,284,000
1918-1922 (4 years)

This body count does not include the 6,210,000 killed in the civil war (Rummel 1996).
4
North Korea Flag
Democratic People's Republic of Korea
Body Count: 3,163,000
1948-Present (58+ years and counting)

1,663,000 is attributed between 1948-1987 excluding the Korean War (Rummel 1994). 2,500,000 is the mid-estimate for those who starved to death between 1995-1998 (U.S. Committee for Human Rights in North Korea 2006).
5
Cambodia Flag
Cambodia
Body Count: 2,627,000
1975-1987 (12 years)

The body count estimate is complete (Rummel 1994). The offical country name was Democratic Kampuchea during Pol Pot's reign and then known as People's Republic of Kampuchea afterwards.
6
Afghanistan Flag
Democratic Republic of Afghanistan
Body Count: 1,750,000
1978-1992 (14 years)

The body count estimate is complete (Courtois 1999).
7
Vietnam Flag
Vietnam
Body Count: 1,670,000
1975-Present (30+ years and counting)

The body count covers the years 1945-1987 for Vietnam/North Vietnam and excludes 1,062,000 from the Vietnam War (Rummel 1994).
8
Ethiopia Flag
People's Democratic Republic of Ethiopia
Body Count: 1,343,610
1974-1991 (17 years)

The body count includes 10,000 political assasinations during 1977-1978, 1,000 children killed in 1977, 110 massacred in an Orthodox church in 1975, 80,000 during the civil war between 1978-1980, 250,000 that died in 1982 through Transit Camps, and 2,500 killed in a bombing raid (Courtois 1999). Another 1,000,000 is added for the famine during 1984-1985 (BBC News 2000).
9
Yugoslavia Flag
Socialist Federal Republic of Yugoslavia
Body Count: 1,072,000
1945-1992 (47 years)

The body count only covers the years 1945-1992 excluding 100,000 from the Tito Partisans between 1941-1944 (Rummel 1994).
10
Chinese Soviet Republic Flag
Chinese Soviet Republic
Body Count: 700,000
1931-1934 (3 years)

The body count only includes the Jiangxi and Fujian provinces (Chang 2005). Although Mozambique has 700,000 to its name, the Chinese Soviet Republic produced more bodies in a shorter time period and the estimate is low.
11
Mozambique Flag
People's Republic of Mozambique
Body Count: 700,000
1975-1990 (15 years)

100,000 civilians murdered between 1986 and mid-1988 (Young 1991) and 600,000 starved to death between 1975-1985 (Courtois 1999).
12
Romania Flag
Socialist Republic of Romania
Body Count: 435,000
1947-1989 (42 years)

The body count only covers the years 1947-1987 (Rummel 1997).
13
Bulgaria Flag
People's Republic of Bulgaria
Body Count: 222,000
1946-1990 (44 years)

The body count only covers the years 1948-1987 (Rummel 1997).
14
Angola Flag
People's Republic of Angola
Body Count: 125,000
1975-1992 (17 years)

The body count only covers the years 1975-1987 (Rummel 1997).
15
Mongolia Flag
Mongolian People's Republic
Body Count: 100,000
1924-1992 (68 years)

The body count only covers the years 1924-1987 (Rummel 1997).
16
Albania Flag
People's Socialist Republic of Albania
Body Count: 100,000
1946-1991 (45 years)

The body count only covers the years 1944-1987 (Rummel 1997).
17
Cuba Flag
Republic of Cuba
Body Count: 73,000
1961-Present (45+ years and counting)

The body count only covers the years 1959-1987 (Rummel 1997).
18
East Germany Flag
German Democratic Republic
Body Count: 70,000
1949-1990 (41 years)

The body count only covers the years 1948-1987 (Rummel 1997).
19
Czechoslovakia Flag
Socialist Republic of Czechoslovakia
Body Count: 65,000
1948-1990 (42 years)

The body count only covers the years 1948-1968 (Rummel 1997).
20
Laos Flag
Lao People's Democratic Republic
Body Count: 56,000
1975-Present (31+ years and counting)

The body count only covers the years 1975-1987 excluding 47,000 war dead (Rummel 1997).
21
Hungary Flag
Hungarian People's Republic
Body Count: 27,000
1949-1989 (40 years)

The body count only covers the years 1948-1987 (Rummel 1997).
22
Poland Flag
People's Republic of Poland
Body Count: 22,000
1948-1989 (41 years)

The body count only covers the years 1948-1987 (Rummel 1997). Excludes 1,585,000 from ethnic cleansing between 1945-1950 (Rummel 1994).
23
Yemen Flag
People's Democratic Republic of Yemen
Body Count: 1,000
1969-1990 (21 years)

The body count only covers the years 1969-1987 (Rummel 1997).

Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty