TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Monday, January 31, 2011

Các tranh luận trong nội bộ đảng CSVN về cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân

Việt Long, phóng viên đài RFA

Trung Tâm Việt Nam của đại học Texas Tech tổ chức cuộc hội thảo lớn về nhiều khiá cạnh liên quan đến cuộc tổng công kích tết Mậu thân1968, biến cố đem lại đau thương tang tóc cho hằng vạn gia đình ở cả hai miền Nam - Bắc.

Diễn giả Mere Pribbenow. Photo: RFA/ Việt Long.

Vì sao Hà Nội phải tung ra trận tổng công kích Mậu Thân? Ai trong bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam ủng hộ và phản bác kế hoạch đó? Ông Hồ Chí Minh can dự ra sao? Các nhân vật khác có lập trường thế nào? Các tư lệnh và chỉ huy chiến trường Huế của Cộng sản đã điều động và thực hiện kế hoạch ra sao?

Đó là những đề tài đáng chú ý trong những cuộc thảo luận trong ngày thứ nhì của cuộc hội thảo. Việt-Long tường trình tiếp cùng quý vị trong bài sau đây, ý kiến của nhà nghiên cứu độc lập Merle Pribbenow, nguyên là chuyên viên ngôn ngữ của cơ quan tình báo Trung ương Mỹ CIA, làm việc tại Sài Gòn trước đây.

Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp phản đối

Nhiều người trong giới nghiên cứu của Hoa Kỳ cho rằng quan niệm về kế hoạch tổng công kích Mậu thân là của tướng Võ nguyên Giáp, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Bắc Việt Nam. Có người lại cho đó là của tướng Nguyễn Chí Thanh, tư lệnh quân sự các lực lượng Cộng sản chiến đấu ở miền Nam.

Tưởng chừng còn phải chờ nhiều năm nữa mới xác minh được sự thật, nhưng gần đây những nguồn thông tin từ Hà Nội cho thấy cả hai vị tướng kia đều không phải là tác giả kế hoạch tổng công kích tổng nổi dậy Mậu thân 1968.

Đó là lời của nhà nghiên cứu Merle Pribbenow trong bài thuyết trình về biến cố tết Mậu thân. Cựu chuyên viên ngôn ngữ của cục tình báo trung ương CIA cho biết tiếp, thực ra hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai người bày tỏ quan điểm chống lại kế hoạch đó qua những cuộc bàn cãi sôi nổi trong bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam.

Phần trình bày của sử gia Villard tiếp tục như sau:

Quan niệm về một cuộc tổng công kích tổng nổi dậy thực ra đã bắt nguồn từ những năm giữa thập niên 1960. Và kế hoạch đó sau cùng đã là sản phẩm chung của tướng Văn Tiến Dũng, thuộc cấp cao cấp nhất của tướng Giáp, và tổng bí thư Lê Duẩn, đối thủ lâu năm của vị tướng được cả quân dân miền Bắc ngưỡng mộ và thường gọi là anh Văn.

Tháng 12 năm 1963, Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam chấp thuận môt nghị quyết, nguyên văn có đoạn là "một cuộc tổng công kích, tổng nổi dậy là tối cần thiết để đạt đến chiến thắng hoàn toàn tại miền Nam"

Tuy nhiên nghị quyết này khẳng định rằng tổng công kích tổng nổi dậy chỉ có thể được thực hiện sau khi quân đội miền Nam đã tan rã, để lực lượng địch không còn sức đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân, là trung tâm của cuộc tổng công kích, tổng nổi dậy.

Tháng 9 năm 1964, bộ chính trị quyết tâm đạt chiến thắng toàn diện, điều động vào miền Nam một đại đơn vị thiện chiến đầu tiên, với nhiệm vụ chuẩn bị tổng công kích sau khi quân đội miền Nam bị đánh bại.

Kế hoạch của Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng

Một kế hoạch quân sự gọi là kế hoạch X được soạn thảo, nhằm tấn công Sài Gòn từ năm hướng, sử dụng các đơn vị đặc công làm mũi tiến công tiền đạo, sách động dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền Sài Gòn. Kế hoạch này y hệt kế hoạch được sử dụng trong chiến cuộc Mậu thân 1968.

Bí thư thứ nhất Lê Duẩn là đồng tác giả và người chủ động nhất trong kế hoạch này, sau đó phải ngưng kế hoạch lại vì lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà vào mùa hè 1965 đã đánh tiêu tan mọi hy vọng về tổng công kích tổng nổi dậy vào năm đó.

Tướng Võ Nguyên Giáp không giữ vai trò chủ chốt trong cuộc chiến ở miền Nam như ông từng giữ trong chiến tranh chống Pháp. Tuy mang chức vụ tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và Bộ trưởng quốc phòng, nhưng ông chỉ là một trong 5 uỷ viên của quân uỷ Trung ương, là cơ chế chỉ đạo chiến trường miền Nam.

Chính trị bộ thường tranh luận gay gắt về chiến lược chiến thuật cho chiến trường này, và tướng Giáp thường ở về phía thua cuộc. Không rõ chi tiết những cuộc tranh cãi, nhưng tin cho hay một bên là bí thư Lê Duẩn cùng những uỷ viên người miền Nam, bên kia là tướng Giáp và những người còn lại trong bộ chính trị.

Hai nhân vật này đã xung khắc từ lâu. Những sự kiện được biết chắc là năm 1956 tướng Giáp được toàn Đảng coi là ứng viên sáng giá nhất cho chức vụ bí thư thứ nhất, thay thế Trường Chinh. Nhưng cuối năm 1957 Lê Duẩn qua mặt ông Giáp, được bầu chọn làm quyền Tổng bí thư. Hai người cũng mâu thuẫn về vấn đề tái khởi phát chiến tranh ở miền Nam.

Cuộc tranh cãi kéo dài tới hai năm, cả giữa khi ra đời nghị quyết 15. Ông Giáp có nhiệm vụ soạn thảo nghị quyết, nhưng có tin cho là ông không đệ nạp dự thảo cho tổng bí thư Lê Duẩn trong nhiều tháng trời. Sau này khi nhận được, ông Duẩn đã sửa chữa nhiều điểm trước khi đưa ra Trung ương Đảng để chuẩn phê.

Mùa hè 1966, lực lượng Bắc Việt rơi vào chiến lược phòng vệ khi quân Mỹ đổ vào ngày càng đông. Giới lãnh đạo quân sự miền Bắc luôn luôn quan niệm rằng phải tiến công liên tục để giành thế chủ động chiến trường.

Tháng 6 năm 1966, bộ tổng tham mưu ở Hà Nội soạn thảo một kế hoạch cho chiến dịch Đông xuân 66-67, dự kiến đạt chiến thắng quyết định trong năm 1967. Chiến dịch nhắm tấn công một số tỉnh thành, đánh tan quân đội Việt Nam và gây tổn thất nặng nề cho lực lượng Mỹ.

Tướng Võ nguyên Giáp và tướng Nguyễn Chí Thanh ủng hộ kế hoạch này, nhưng cảnh giác rằng phải giành thắng lợi trong những trận chiến sắp tới khi lực lượng Mỹ của tướng Westmoreland tung ra hành quân lùng và diệt.

RFA graphic. >> Xem hình lớn hơn

Những cuộc tấn công vào thành thị phải thực hiện ở quy mô nhỏ, và chỉ tiến tới giai đoạn tổng nổi dậy ở những địa phương chọn lựa vào khi lực lượng Cộng sản chiếm hoàn toàn ưu thế quân sự.

Thương lượng với Mỹ

Nhưng cũng cùng tháng đó bộ chính trị quyết định mở cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

Quyết định được chính thức hoá vào tháng giêng 1967 khi Trung ương Đảng chuẩn thụân nghị quyết 13, kêu gọi bàn thảo chiến lược thương lượng với Mỹ. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thuyết trình với Trung ương Đảng về nghị quyết 13, nói rằng cuộc chiến đi vào bế tắc.

Người Mỹ phải chọn giữa hai giải pháp, một là phải leo thang chiến sự trong một cuộc chiến lâu dài, hai là phải đạt một chiến thắng nhanh chóng tạm thời làm lợi khí thương thuyết dàn xếp và đòi hỏi những điều kịên có lợi hơn cho phía Mỹ, trước khi diễn ra cuộc tuyển cử Tổng thống Mỹ vào năm 1968.

Ngọai trưởng Việt Nam cho rằng phía Mỹ đang gặp sự chống đối chiến tranh từ trong nước, Tổng thống Johnson phải chọn phương cách khác để giữ ghế Tổng thống. Điều này là cơ hội tốt cho phía Cộng sản Việt Nam. Cộng sản sẽ đề nghị thương thuyết nhưng vẫn tiếp tục tấn công trên chiến trường để giành ưu thế trong lúc Tổng thống Johnson ở thế yếu vì phải đạt giải pháp trước bầu cử.

Tuy nhiên ông Trinh nhấn mạnh rằng trước khi khởi sự thương thuyết, lực lượng Cộng sản phải giành cho được một chiến thắng đáng kể về quân sự để làm lợi khí cho các nhà thương thuyết.

Nghị quýêt 13 cổ võ toàn quân tung hết nỗ lực giành một chiến thắng quyết định, là gây tổn thất nặng cho lực lượng Mỹ và đập tan quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Mục đích là tạo dựng những điều kiện cần thiết cho một cuộc tổng công kích tổng nổi dậy, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Sau đó một chính phủ liên hiệp sẽ cho người Mỹ rút quân khỏi Việt Nam mà không mất thể diện.

Nghị quyết nhấn mạnh rằng cuộc tổng công kích tổng nổi dậy lật đổ chính quyền là giai đoạn cuối cùng của kế hoạch, sau khi lực lượng vũ trang của Việt Nam Cộng Hoà đã bị đánh tan. Rõ ràng là quân miền Bắc bị cấm tổng công kích vào thành phố trước khi đánh tan quân đội miền Nam.

Chiến dịch Đông xuân 66-67 phải được tung ra ngay trước khi quân đội Mỹ thay đổi kế hoạch hành quân. Mục tiêu đặt ra là phải tiêu diệt từ 3 tới 5 lữ đoàn Hoa Kỳ, giết và làm bị thương 150 ngàn quân Mỹ, đánh tan từ 5 tới 7 sư đoàn Việt Nam Cộng Hoà, giải phóng, tức là chiếm giữ lãnh thổ với từ 5 triệu tới 8 triệu dân, chiếm Đông Hà, Quảng Trị, tấn công Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn.

Kế hoạch còn được duyệt đi duyệt lại vào tháng tư, tháng sáu năm 1967. Tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng, không hài lòng với kế hoạch này. Ông phát biểu rằng càng xem xét càng thấy không ổn. Kế hoạch này cũng không khác gì kế hoạch trước đó, chỉ đặt mục tiêu cao hơn thôi. Thực tế chiến trường cho thấy không thể đạt được những mục tiêu này.

Bộ chính trị cũng không bằng lòng với kế hoạch trong nghị quyết. Tài liệu của Việt Nam cho biết bộ chính trị thấy không có cách nào đạt được chiến thắng quyết định trong năm 1968.

Bộ chính trị cho rằng sau hai năm chiến đấu, thực tế cho thấy việc tiêu diệt trọn một đơn vị Mỹ cấp đại đội hay tiểu đoàn cũng đã là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.

Cái chết của Tướng Nguyễn Chí Thanh

Sáng sớm ngày mùng 6 tháng 7 năm 1967, trước giờ xuất phát để trở vào chiến trường miền Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh bị triệu chứng tim tại nhà riêng, được đưa ngay vào quân y vịên 108, nhưng đến 9 giờ sáng hôm sau thì chết.

Cái chết của vị tướng tư lệnh chiến trường miền Nam khiến kế hoạch phải thay đổi, và người hăng hái nhận lãnh quyền chỉ huy đã sẵn sàng, đó là tướng Văn Tiến Dũng.

Tướng Dũng là cấp dưới trực tiếp của tướng Giáp trong cả chục năm, làm Tổng tham mưu trưởng duới quyền tổng tư lệnh của ông Giáp.

Hai người có nhiều khác biệt. Ông Giáp là người trí thức, xuất thân từ gia đình quan lại, trong khi ông Dũng thuộc gia đình nông dân, trình độ văn hoá chưa quá bậc tiểu học. Tướng Dũng có tham vọng thay thế tướng Giáp, và âm thầm thực hiện điều đó đã từ nhiều năm.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho một tờ báo Việt Nam năm 2004, ông Dũng cho biết lúc tướng Thanh chết ông đã tìm gặp riêng Tổng Bí thư Lê Duẩn, đề nghị thay đổi kế hoạch quân sự cho mìên Nam. Như vậy là ông Dũng đã qua mặt và hành động qua đầu ông Giáp, với người thích hợp nhất cho việc đó là ông Lê Duẩn.

Sau khi nghe ông Dũng trình bày, ông Duẩn bất ngờ phát biểu, vậy thì tại sao mình không đẩy thẳng kế hoạch lên giai đoạn tổng công kích tổng nổi dậy?

Ý kiến này đi nguợc với chỉ thị theo tình thần nghị quyết 13, đốt giai đoạn, nhảy qua hẳn mục tiêu đánh thiệt hại nặng quân Mỹ và đánh tan quân miền Nam, tiến ngay tới tổng công kích tổng nổi dậy. Nhưng tướng Dũng lập tức đồng ý, và ông Lê Duẩn soạn ngay chỉ thị quân uỷ Trung ương đệ trình ý kiến này cho bộ chính trị.

Ý kiến này cũng đề nghị tướng Dũng thay tướng Giáp trong chức vụ bí thư quân uỷ Trung ương.

Vì sao tướng Văn Tiến Dũng lại ủng hộ ý kiến đầy mạo hiểm ấy của ông Lê Duẩn? Tướng Giáp có mất quyền chỉ huy không? Ông Hồ Chí Minh quyết định ra sao? Trong một bài phát thanh sau này chúng tôi sẽ tường trình tiếp cùng quý vị bài thuyết trình của nhà nghiên cứu Merle Pribbenow, cựu chuyên viên của Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Mong quý vị đón nghe.


Cố Ðô Kinh Hoàng (biến cố Mậu Thân-1968)


Elje Vannema
The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976
Bốn mươi năm trước vào ngày tết thiêng liêng truyền thống của dân tộc, người con gái vấn vành khăn tang cho người thân vì cuộc chiến xâm lăng của Cộng Sản. Trong khi có lệnh đình chiến để đón xuân Mậu Thân, 1968. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa về nhà đón xuân trong dịp đình chiến, thì quân Cộng Sản Việt Nam vi phạm đồng loạt tấn công các thành phố và các căn cứ quân sự trên toàn cỏi Miền Nam Việt Nam. Tại thành phố Huế, nơi cố đô của những hội đền chùa, của cầu nguyện cho sự an lành thì chính những ngày xuân của tết Mậu Thân 1968 đó, CSVN đã thảm sát gần 5000 đồng bào Huế bằng cách chôn sống tập thể. Bài viết của Bác Sĩ Elje Vannema vào năm 1976 là lời tường trình chân thành không tuyên truyền, không thêm bớt. Bài viết được bổ túc bởi những hình ảnh.


Cố Đô Kinh Hoàng (Biến cố Ttế Mậu Thân-1968)

Elje Vannema, Vintage Press, New York, 1976


Mới sáng tinh sương đã thấy quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Cộng Sản Việt Nam lập ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để trá hình) hiện diện trong thành phố. Họ là những người lo mặt chính trị trong cuộc chiếm cứ. Ngày hôm trước, họ vào sổ gần hết mọi người, ghi tên, tuổi, phái tính. Họ quan tâm đặc biệt đối với phái nam, chia những người này ra thành nhiều nhóm: công chức, những người có liên hệ với quân đội Việt Nam Cộng Hòa, và những kẻ khác. Nhiều trường hợp họ ghi chú đầy đủ cả gia đình, cả tên con cái nữa. Mỗi nhóm họ chỉ định một người đại diện, mang trách nhiệm mọi mặt về tất cả thành viên trong nhóm. Nếu có người thoát thì người đại diện phải lãnh đủ. Dân chúng được lệnh không tụ họp đông người, trừ khi được kêu đi dự mít tinh, không được nghe đài, không được phao tin đồn đãi...

Ngày hôm sau, du kích và nằm vùng địa phương tỏa ra đi tìm những người có tên trong danh sách viết tay nguệch ngoạc. Họ được đưa về Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Một anh cựu sinh viên chủ tọa phiên tòa với sự hiện diện của một người Bắc Việt và hai sinh viên khác. Hai sinh viên này chúng tôi biết...



Các phiên tòa nhân dân mấy ngày trước đã chấm dứt. Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên tòa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Tòa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Ðắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Tòa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Ðọc và Nguyễn Thị Ðoan điều khiển. Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc.


(những khúc thi hài đã rủa nát khám phá trong những mồ chôn tập thể 1968)

Sau hai ngày phiên tòa kết thúc, nhường chỗ cho những công tác khủng bố dân chúng khác. Một người trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh thiên bạch nhật để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị bắn công khai. Nguyễn Ðọc bắn nhiều người trong đó có người bạn thân đồng lớp là Mu Ty, chỉ vì bạn không chịu hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt đầu kiểm soát lương thực, thực phẩm.

Ngày thứ bốn, vì không tuân hành lệnh cách mạng, một gia đình bị xử. Người chủ gia đình bị bắn tức khắc. Dưới áp lực khủng bố gia tăng nhiều người bỏ trốn, nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua sông sang làng Ðập Ðá. Thường bị bắn theo nhưng cố chèo.

Những người nằm vùng xuất đầu lộ diện, ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc Việt và quân chính quy Cộng Sản Việt Nam (CSVN) lo chuyện quân sự và chiến lược. Nằm vùng địa phương lo việc chính trị, hành chính, bình định, tuyên truyền, và tiêu diệt kẻ thù. Ðám này bắt và giết người bất kể, nhiều khi chỉ vì hiềm thù cá nhân. Cán bộ miền Bắc có mặt ở tòa án nhân dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng vai trò ít quan trọng trong các bản án. Ðịa phương quyết định mọi chuyện. Trước khi lên danh sách, thường đám nằm vùng đã quyết định bắt ai rồi. Chỉ còn việc ra lệnh thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ họ lý luận rằng, thà giết lầm hơn bỏ sót, vì bỏ sót thì sau này mình sẽ bị nhận diện. Một cách hệ thống, công chức, quân nhân, sinh viên có tinh thần quốc gia, có khả năng lãnh đạo và có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia đối lập, tất thảy đều được đoái hoài. Danh sách bất tận.

(Những chiếc hòm tập thể trong biến cố tết Mậu Thân 1968)

Dân chúng tập trung ở nhà thờ chính tòa được lệnh vào bên trong, không ai được đứng bên ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh ngồi xuống. Ðàn ông và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên đứng. Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, được lệnh tập trung vào bệnh viện vì cộng sản sợ giao tranh có thể xảy ra ở đó. Dân lúc này còn sợ súng máy và hỏa tiễn trực thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoãn làm theo lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con nít được lệnh ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên nằm vùng nhận diện, trước mặt hai cán bộ miền Bắc và hai bộ đội CSVN. Hai người nằm vùng này mới được xổ tù khi Việt cộng chiếm thành phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu của CSVN. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa.

Bên trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Ðàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi phía Nam, hướng Nam Giao. Ðàn bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính trẻ cộng hòa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này) Ngày kế tiếp, cuộc hành trình kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Ðàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng Ðông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó "Ta đi mô đây". Có tiếng phụ họa "Lên núi hay tới chỗ chết?".

Bộ đội CSVN nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết mình đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời mình sắp kết thúc. Ông già đi bên cạnh Lương bổng ngã quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên mình. "Bắt gió cho ông ta " tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi người canh gác tới.

Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào. "Xin để tui đi, để tui ở lại đây", ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người gác. "Tui không đi xa hơn được nữa".

"Ðứng dậy ".

Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngã. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để chắc ăn, không ai chứng kiến. Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.




Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng hối thúc. Rồi có tiếng hô "Dừng lại ". Lương thấy đám người phía trước được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đã tới đích. Ðám canh gác phía sau miệng hét thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào sườn kẻ khác... Sau này, Lương nhớ lại mình đã đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người đã bị kêu lên phía trước và bị quân CSVN tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết gì về số phận họ vì chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về phía lăng Ðồng Khánh.

Sau một giờ đi họ lại được lệnh dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu được lệnh đào hầm rãnh. Họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ thì chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi. Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma nào cả mà do chính con người tạo ra.

Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc mình sẽ không qua khỏi. Dù vậy, anh và người lính trẻ vẫn cố tìm cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng. Hai người thất thần nhìn nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay về nhìn thành phố thân yêu đổ nát đang chìm trong bóng tối sau lưng họ. Họ đào đã hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ của mình. Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước, người ta nói thế. Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên. Thần chết vây bủa không gian. Tại sao mình ở đây? Ða số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên khắp thế giới đến tuổi khác.

Sau khi đào xong một hố rãnh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên vì sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối thì có cơ thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Ðám người khập khễnh lê lết xuyên qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy theo dòng nước hướng về phía Ðông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuất động bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy mình băng qua một con đường sắt. Từ đó tiếp tục đi tới quốc lộ, lòng mong ngóng sớm thoát được vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Mải tới ngày 16 tháng 2 Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những gì đã xảy ra...

Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9.69 người ta mới tìm thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Ðá Mài, con suối chảy ra khe Ðại đổ vào sông Hương... Trong số 428 bộ cốt tìm được ở đó, rất ít được nhận diện. Vì không tìm thấy ở đâu khác, gia đình họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng con mình đã chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này...

Mồ Tập Thể

Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là vì họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở tòa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên tòa đầu tiên đã liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày tìm kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ.


(đang khai quật những mồ chôn tập thể)

Trong số xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là những sinh viên đã bỏ vô bưng theo CSVN sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở về bắt các sinh viên khác theo họ. Khi CSVN chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn ở lại bị giết và chôn tại trường. Những sinh viên khác của Gia Hội không theo CSVN cũng chịu chung số phận. Có hố vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số còn lại rất mới. Những xác đầu tiên được lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Hòa khám phá ngày 26.02.1968.


Trong số nạn nhân có cô Hoàng Thị Tam Tuy (các tên riêng và địa danh nào không đoán được sẽ ghi lại đúng như tác giả đã ghi - Người dịch), 26 tuổi, rất xinh, bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân CSVN, theo lời kể của chị/em cô, vào nhà bắt đi đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2, rồi chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số đó có bà con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà góa Dương Thi Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con. Bị bắt tại nhà ngày 22.02, đưa vào trường Gia Hội và bắn chết. Xác bà được các con nhận diện ngày 26.02. Người thứ ba là Lê Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn luyện ngày 14.02. Xác được gia đình phát hiện và nhận diện ngày 16.03, chung hố với hai nạn nhân khác trong khuôn viên trường.

Người thứ tư là Trần Ðình Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới lập gia đình. Bị bắt ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong, cảnh sát 42 tuổi, bị bắt ngày 17.02 ở nhà một người quen và bị chôn sống, tay trói tại trường Gia Hội. Tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi, cảnh sát. Bị bắt tại gia ngày 08.02. Vợ con van xin CSVN cho phép chồng ở lại nhà, nhưng tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào đầu, xác tìm thấy ngày 26.02, ở khuôn viên trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi Lao, buôn thúng bán bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường lộ. Xác tìm thấy ở trường học, tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không bị một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn sống. Những xác khác tìm thấy gồm một đại úy cộng hòa, hai trung úy, ba trung sĩ và mấy viên chức hành chánh. Bốn xác người của CSVN.

Vùng mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12 hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada, thường gọi là Tăng Quang Tự.


Vùng thứ ba tại Bãi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số nạn nhân ở Chùa có ông Phan Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến Thành, có gia đình, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may, trước có tham gia vụ Phật giáo chống tổng thống Diệm. Năm 1961 bị bắt vì chống chính quyền, được thả năm 1967. Bị Việt cộng bắt đi tối 12.02 trên đường Chi Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông chôn xác chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị bắn xuyên đầu, dập cùng hố với 7 người khác.

Một người khác tìm thấy ở Chùa là ông Ðặng Cơ, 46 tuổi, nghề thầu khoán, bị bắt tại gia ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Một người khác nữa là ông Ngô Thông, 66 tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày 08.02, xác dập chung với 10 người khác. Một số tử thi có vết thương, một số tay bị trói giật cánh khỉ bằng dây thép gai, và một số miệng bị nhét giẻ.

Lần đầu tiên nói chuyện với đồng bào trong vùng tôi tưởng chỉ có 16 xác ở Chùa và 3 xác khác ở Bãi Dâu. Nhưng bên hông và sau Bãi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả ở đây chết vì bị trả thù. Một vài người là thành viên CSVN nhưng bị giết vì muốn ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội. Bốn tháng sau, tháng 08.68, tôi trở lại đây để tìm hiểu thêm uẩn khúc của những cái chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân địa phương đều xác nhận những điểm trên.


(đám tang cho những mồ chôn tập thể)

Tiết lộ về "mồ chôn tập thể" đầu tiên của chính quyền miền Nam là vào ngày 28.02.68, khi phát ngôn nhân chính phủ cho biết về một hầm "ghê gớm ở Cồn Hến gồm 100 xác công chức và quân nhân bị bắt khoảng đầu tháng". Cũng theo phát ngôn viên, "các nạn nhân bị Việt cộng giết, thân xác họ không được lành lặn". Cồn Hến nằm giữa sông Hương. Lúc đầu CSVN không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó trở thành một vị trí chiến lược cho việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng cát Ðông Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính quyền xác nhận có 101 xác trong hầm. Theo đồng bào chạy thoát từ Cồn thì trong số nạn nhân có nhiều người nam mang quân phục, một vài người bận đồ kaki của CSVN, một số khác bận áo dòng ngắn, một vài người mang quân phục lính cộng hòa và một vài người bận thường phục. Tôi hỏi nhân viên chính quyền địa phương về tên tuổi các nạn nhân thì được trả lời là các tử thi không được nhận diện đầy đủ; họ xác nhận là không thể nào quả quyết tất cả đều bị hành quyết; một vài nạn nhân có thể đã chết trong khi giao tranh và vài xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.

Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết vì lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác tìm thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Ðà Nẵng.

Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10.03.68. Ba hầm rãnh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ. Một hầm khác, vùng thứ sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Ðông, được khám phá ngày 14.03.68 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác, tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của một nạn nhân nhôi ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.

Phía Nam Huế qua hoàng thành ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự Ðức và Ðồng Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Ðây đó trên dưới hai chục hầm, có cái giữa đất bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ suối. Bên cạnh hầm lớn, có những hố nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu tiên được khai quật ngày 19.03.68, nhưng mãi cho tới tháng 6.69 vẫn còn xác được tiếp tục phát hiện. Ban đầu còn dễ nhận dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra còn lại thường phục. Ðặc biệt ở đây không có xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc nhận diện trở nên khó khăn. Dù vậy, cuối hè 1969, người ta cũng nhận diện được xác bố của ông thôn trưởng thôn Than Duong. Vì con trai vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau con đi tìm cha mãi không gặp. Xác cha, đạn xuyên đầu và ót, được tìm thấy tháng 6.69.

Cũng trên đường hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra trận chiến ác liệt trong thời gian cộng sản tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân chiếm đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26 năm, cách Huế 6 cây số hướng Nam, vào ngày 21.02. Lúc đó Tu viện đang là nơi lánh nạn cho hơn 3000 người. Mặc cho các cha dòng van xin, cộng sản đã cho thần hỏa thiêu rụi tòa nhà chính trong vòng hai ngày. Các tòa nhà bên là chỗ sinh kế của nhà dòng cũng bị lửa đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho thư khố và thủ bút quý thời vua chúa cũng chung số phận.

Cha Dom Romain Guillaume, một trong những linh mục của dòng, bị một lính Việt cộng bắn vào vai lúc rời khỏi tòa nhà cháy sau khi đã di tản hầu hết dân tỵ nạn. Một linh mục người Việt bị bắn vào chân. Khi rút khỏi đóng gạch vụn Tu viện ngày 25.02, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó 2 linh mục người Pháp, cha Urbain, 52 tuổi, và cha Guy, 48 tuổi và một số tu sĩ linh mục, tập sinh và người giúp việc. Những người này bị lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà dòng và được dẫn đi về hướng Nam. Ða số bọn họ kết liễu cuộc đời gần chỗ lăng các vua. Tới tháng 6.69, tổng cộng 203 xác được khai quật. Trong số nạn nhân ở lăng Tự Ðức có Ðoan Xuan Tong, 20 tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt Biểu, quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi nhà ngày 06.02.68. Xác em được thân nhân tìm thấy bên cạnh lăng vua ngày 19.03.68, chôn chung với năm người khác cùng làng. Tại lăng Ðồng Khánh có xác linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10 người khác. Một người Việt khai quật xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, mình không có một vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn sống. Xác ông liệm ngày 23.03.68 và sau đó được một linh mục đồng dòng nhận diện. Vị linh mục này không thể xác nhận được là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự kiện không có xác đàn bà và con trẻ trong các hầm chứng tỏ các nạn nhân đã bị hành quyết dã man chứ không phải chết trong lúc giao chiến. Nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc thì chắc chắn đã có người bị thương và sống sót, hoặc có người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ không phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong tục người chết luôn được mang về nhà mình để hồn họ khỏi phải vất vưởng muôn kiếp. Vì thế nguyên tắc của đối phương là phải dấu nạn nhân thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị khám phá thì cũng không nhận diện được là ai.

Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy dòng Thiên An cũng được tìm thấy trong một hầm riêng ngày 27.03.68 gần lăng Ðồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.

Vùng chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 01.03 với 20 xác. Trong số tử thi có ông Trương Văn Triệu, trung sĩ lính Cộng hòa. Trung sĩ Triệu có vợ và 5 con. Du kích cộng sản địa phương bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông ẩn trốn. Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người gần cầu nên vợ ông đã tìm được xác chồng sau đó.

Xác ông Tran Hy, thuộc lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con, cũng được lấp cùng hầm với ông Trieu. Ông bị bắt ngày 20.02 khi đang trốn trong nhà một láng giềng. Tay bị trói cánh khuỷu, người không có vết thương nào.

Vùng chôn thứ chín ở cửa Ðông Ba, nơi xảy ra giao tranh lớn. Ðây chỉ có một hầm 7 người bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có ông Ton That Quyen, 42 tuổi. Có gia đình với 10 người con, bị bắt và dẫn đi hôm 08.02.68. Gia đình tìm được xác ông ngày 05.05.68.

Ðịa điểm thứ mười là trường tiểu học An Ninh Hạ, một hầm 4 xác, trong đó có cảnh sát Tran Trieu Tuc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt tại nhà và mang đi ngày 05.02.68. Xác tìm được ngày 17.03.68 ở trường, mang vết thương ở đầu và cổ. Ba xác còn lại: một sinh viên, một quân nhân và một cảnh sát.



Ðịa điểm thứ mười một là trường Van Chi, một hầm 8 xác. Trong đó có anh Le Van Loang, thợ máy, 35 tuổi, có vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi dự lớp huấn luyện ngày 06.02. Khi bị dẫn đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay trở về. Xác anh được những gia đình đi tìm xác người thân tìm thấy ngày 10.03.68 gần trường. Một vài xác bận quân phục, 4 xác chắc chắn là thường dân, trong đó có một sinh viên.

Ðịa điểm thứ mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. Tìm được 102 xác. Trong đó có ông Nguyen Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có vợ 6 con. Bị bắt ngày 02.02.68 và có lẽ bị giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác. Tìm được xác ngày 01.03, tay bị trói, một viên đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều người khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều xác đàn bà nhưng không có trẻ con.

Ðịa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách Ðàn Nam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam. Gần 200 xác được tìmthấy dưới các đám cây và bụi rậm, gồm học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ. 27 người thuộc làng lân cận. Sau khi an ninh tạm vãn hồi, các bà đi tìm chồng đã khám phá ra địa điểm này. Lúc đầu, họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau, 25.03.68, họ đụng vào một miếng đất mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng nhỏ trong vùng. Xác người thân họ nằm nơi đây, tay bị trói cánh khủy, đạn bắn từ sau cổ xuyên qua miệng. Có nhiều rãnh hầm nối nhau với nhiều xác. Một số nạn nhân từ nội thành, những người khác từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ Huế về nhà ăn tết.

Ðịa điểm thứ mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2,5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Ðức, 3 bác sĩ và một bà vợ, tìm thấy ngày 02.04.68.

Ðịa điểm mười lăm ở Ðông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, tìm thấy ngày 01.04.68. 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ. Tất cả đều nam giới, trong đó có15 sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn trẻ. Một vài xác không thể nhận diện được.

Tới tháng 05.68, tổng cộng có trên 900 xác người bị coi là mất tích đã được tìm thấy. Dĩ nhiên còn nhiều người chưa được tính... Ðầu năm 1969 nhiều địa điểm khác được khám phá.

Ðiểm chôn thứ mười sáu: Ðầu tiên ở làng Vinh Thái. Ðịa điểm thứ hai ở làng Phú Lương. Ðịa điểm thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận Phú Thứ. Tất cả được tìm thấy trong khoảng từ tháng 01 tới tháng 08.69. Quận này với quận kế bên bị cộng sản chiếm nhiều năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không tập kéo dài nhiều tháng. Mải tới đầu năm 1969 quân Cộng hòa mới tiến vào được vùng này...

Ba làng này cách thị xã Huế chừng 15 cây số về các hướng Ðông và Ðông Nam, cách bờ biển từ 3 tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương trên 800 xác được tìm thấy trong các vùng trên trong vòng 6 tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác chôn lâu rồi, quần áo đã mục... Trong số nạn nhân người ta nhận diện được 16 học sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn ông, đàn bà, trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói, đa số đều chôn cùng một hố. Vùng làng Vinh Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và làng Phú Xuân đợt đầu 230, đợt sau, khám phá vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu, nhưng nhờ lượng muối cao của đất vùng này giữ, đa số tử thi hãy còn có thể nhận diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân, bị bắn ở cổ và đầu. Ða số nạn nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ em và một vài người mang nhiều loại vết thương. Có các linh mục, tu sĩ và chủng sinh của các làng lân cận mất tích từ hơn 20 tháng kể từ biến cố tháng 02.68. Trong số 357 xác có cha Bửu Ðồng, một cha sở quận Phú Vang và 2 chủng sinh. Cha Đồng dấu được trong túi sau bộ đồ ngủ đen trên người một hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng Việt. Một trong ba lá thư này, có bản chụp trưng bày ở nhà thờ chính tòa Huế, ông viết cho bổn đạo mình (thư tìm thấy trên thi thể ngày 8.11.69).

Các con cái yêu dấu:

Ðây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô trên thuyền bão táp... (3 chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu xuân cho mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con, nhớ.. (hai chữ đọc không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ý Chúa.

Hãy mến Mẹ sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin cám ơn Chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và tận tình thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo hòa bình của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha bình an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống cho Chúa qua tay Ðức Mẹ.

Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời.
Chúc lành cho chúng con.
(Chữ ký Cha Ðồng)


Ðiểm chôn thứ mười bảy ở làng Thượng Hòa, quận Nam Hòa, bên bờ sông Tả Trạch, một phụ lưu sông Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được tìm thấy giữa các lùm cây trong tháng 07.69. Chỉ có ba xác nhận diện được là người của làng bên cạnh. Tất cả đều mang vết thương cổ và đầu, dấu chỉ của sự hành quyết.

Ðiểm thứ mười tám ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, tìm thấy tháng 04.69, và ở làng Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, tìm thấy tháng 07.69. Cả hai làng nằm trong vùng bị cộng sản chiếm từ lâu... Trên 70 xác, nhiều xác không còn nhận diện được nữa, đa số là đàn ông, vài đàn bà và trẻ con. Họ được nhận diện là người của các làng lân cận và vài người có thể bị chết vì chiến cuộc bởi mình họ mang nhiều vết thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị bắn ở cổ và đầu.

Ðiểm thứ mười chín tìm thấy vào tháng 09.69 ở Khe Ðá Mài, quận Nam Hòa, một con suối nhỏ chảy vào Khe Ðại, phụ lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương người, có xương đủ bộ, có xương nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả được nước suối mài trắng tinh. Dân đi cưa gỗ tìm thấy địa điểm này. Nạn nhân có lẽ đã được chôn bên bờ suối trong mùa mưa và nước suối đã dần soi mòn đất để lộ xác ra, cũng có thể là nạn nhân bị vất xuống suối, chứng cớ là các mảnh quần áo được tìm thấy dọc bờ hoặc ngay dưới khe, thì việc chôn lấp nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa mưa (tháng hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân đã được dẫn thẳng tới đây hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa suối khô, thì sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06 tới 10.

Có lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng đã thanh toán vội vàng các nạn nhân tại đây. Theo luật thông thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kẻ thù thường chôn cất xác đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có thể đây là xương và sọ của lính CSVN và Bắc Việt. Như vậy thì số phận nào cho những người Phú Cam bị mất tích?

Nghiên cứu các phúc trình quân sự Mỹ thì không thấy có một cuộc không tạc lớn hoặc của máy bay B 52 nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần Lộc Sơn vào hạ tuần tháng 04.68, một địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây số. Vả lại lập luận mang người bị chết vì bom B 52 băng qua vùng đất gập ghềnh để đưa về chôn ở suối này quả không vững. Ðường lên núi dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu kẻ thù bị thiệt hại nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn có, đã mang xác 500 đồng đội đi thì hẳn lộ trình phải là hướng núi, gần và dễ di chuyển hơn nhiều, chứ làm sao mà chọn băng qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.

Trong thời gian cuộc tấn công của cộng sản có xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ Huế qua Bến Ngự, cầu Nam Giao tới gần và trong Nhà dòng Thiên An. Nhưng đã không có tiếp tục đánh nhau lớn về mạn Nam, khi quân thù chọn đường rút lui lên núi, hướng trái với Ðá Mài. Khe Ðá Mài nằm cách thành phố 40 cây số về hướng Nam, bên ngoài vùng lăng tẩm; nơi nầy được coi là vùng không người, chỉ có cộng quân lai vảng. Khe chứa 500 sọ. Ðịa thế cách trở, cách xa mọi văn minh bởi rừng đồi vách đá cho thấy người ta không muốn để số xác kia, xác của những người mang từ Huế ra bị khám phá, mà nếu có khám phá thì cũng không nhận diện được. Nằm lẫn với xương là các mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải màu xanh bộ đội miền Bắc hoặc quân phục CSVN. Các sọ vỡ xương trán tất thảy cho thấy bị đánh bởi một vật gì nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích gì ở xương, đây có thể là nạn nhân chết trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài cốt được chuyển về thành phố, nơi họ ra đi và tống táng trong an bình... Sau khi Ðá Mài được khám phá, vẫn còn vài trăm người mất tích. Trong số đó có một số sinh viên, điển hình là các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích. Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam. Những người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính đảng, thanh niên công giáo, Phật giáo, tu sinh, giáo chức và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt tăm tin tức.

Bên cạnh các hầm chôn tập thể, còn có các nạn nhân lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có khi cả gia đình bị tiêu diệt như gia đình ông Nam Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ và 5 con tại nhà. Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dã man trước rạp chiếu bóng địa phương và ông Phan Văn Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông với bốn đứa con...

Elje Vannema
The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976


Thư của một nhân chứng biến cố Mậu Thân 1968 còn sống

 Chi Minh War Criminal on Wednesday, January 19, 2011 at 3:55pm


(Hồ Đinh)

 

 Với tư cách là người chiến đấu trong cuộc từ đầu đến cuối tôi biết tường tận về việc đó nay tôi xin viết lại cho rõ: Tôi là một Đại Đội Trưởng thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 3, sư đoàn 1 Bộ Binh. VC đã qua mặt được lực lượng Cảnh sát, An ninh quân đội, phòng 2 của Sư đoàn 1, Tiểu khu và các lực lượng diện địa để đưa trước 3 tiểu đoàn chính quy vào ếm trong thành nội Huế. Ðúng 03:30 sáng ngày 01 tháng 01 năm Mậu Thân, tức là ngày 12 tháng 1 năm 1968 thì bắt đầu nổ súng, ban đầu chúng chiếm trung tâm Cải Huấn Thừa Thiên và kho lương thực của đồn quân cụ, lực lượng rằng phối hợp với bọn nằm vùng đi từng nhà bắt quân dân cán chính của ta mà chúng đã theo dõi từ trước, đồng thời hướng dẫn bọn chính quy (gồm 12 tiểu đoàn) từ ngoài vào.

 

Khe Đá Mài (Da Mai creek or called Phú Cam Death March) nơi hàng trăm nạn nhận bị thảm sát . Khi tìm được chỉ còn lại sọ xương trắng xóa qua giòng nước chảy của suối .
Three Communist defectors told intelligence officers of the 101st Airborne Brigade that they had witnessed the killing of several hundred people at Da Mai Creek, about 10 miles south of Hue, in February of 1968. The area is wild, unpopulated, virtually inaccessible.
Chúng bắt tất cả 5800 người, giết tại nhà độ 100, đưa ra Bắc độ 100, còn lại bị giết tập thể tại 4 địa điểm:

 1. Khe Ðá Mài thuộc quận Hương Thuỷ.

2. Bãi Cát Xuân Ô Ðiên Ðại quận Phú Vang.

3. Sau chùa Áo Vàng - quận 2 đường Chi Lăng.

4. Bãi Dâu - quận 2 phía Bao Vinh.

 

Sau khi quân ta đánh tấn VC ra khỏi Huế, tôi bị thương điều trị tại quân y viện Nguyễn Tri Phương. Tình cờ gặp đoàn xe của Tiểu nhị Thừa Thiên đi đào xác 2 hố tập thể Xuân Ô Ðiên Ðại, tôi đi theo xem. Vùng đó tôi quá quen thuộc vì hơn 2 năm qua đơn vị tôi bảo vệ an ninh cho vùng đó. Ðoàn xe đi theo tỉnh lộ rải đá về hướng Tây Bắc thành phố Huế. Ðến chợ Sam xe dừng lại vì chỉ còn cách xa 1 cây số, chúng tôi đã ngửi trong gió biển mùi hôi thối Ðoàn người đi bộ tiến về bãi chôn người cách 500 m thì một cảnh tưởng hãi hùng xảy ra. 

 

  Rõ ràng là 1 bức tranh của Quỷ trong truyện Liêu Trai: Trên các giòng (lằn) của bãi cát là NHỮNG NGƯỜI ÐƯỢC ÐỨNG BỞI 1 CỌC TRE HOẶC SẮT GỔ XUYÊN TỪ ÐÍT LÊN TỚI ÐẦU chừng 40 cụm, mỗi cụm 5 đến 10 người, phía dưới chân là NHỮNG NGƯỜI BỊ CHẶT NGANG CỔ, CÓ NGƯỜI BỊ CHẶT CHÂN NGANG BỤNG. Phía dưới chân các giòng cát thì nước còn rịu rịu vì trời còn mưa lay ray suốt cả tháng là những người BỊ CHÔN SỐNG, 2 TAY BỊ BUỘC CHẶT SAU LƯNG RỒI CHÔN QUAY MẶT LẠI NHƯ ÐANG NÓI CHUYỆN VỚI NHAU, có người trên đầu có mũ, có người có 1 tàn thuốc gắn vào nón. Tất cả đều tím đen hoặc rỉ nước vàng hôi thối ghê gớm. Sau cùng là các hầm, hầm được lấp đi sả thừng lòi chân tay ra ngoài, mỗi hầm có 4 đến 5 câm, xâm xuyên qua lòng bàn tay bằng dây kẽm gai và bị đánh bằng vật cứng ở sau đầu, cũng có người bị tan nát mặt, tất cả đều bị rữa thối rất khó nhận dạng.

 

Những người được hưởng đặc ân thì được chết tại nhà, như Trung Sĩ Rốt Cảnh Sát, bọn chúng vào bắt tại nhà, buộc dây dắt đi ngoài đường gọi người khác ra hàng: "Tôi là Trung Sĩ Cảnh Sát Nguyến Văn Rốt đây, tôi nghe lời cách mạng kêu gọi ra hàng nên đã được khoan hồng tha thứ, các anh em hãy ra hàng để được khoan hồng tha thứ như tôi". Ðến gần sáng ấy đem về trước sân gọi vợ con ra xem và bắn 1 phát vào đầu. Hiện nay tiệm Bún "Mụ Rớt" rất ngon nổi tiếng ở đường Chi Lăng Quận 3 Huế.

 

Còn Thiếu Tá Cứ tỉnh đoàn trưởng xây dựng nông thôn Huế, đã núp kỹ trên máng xối VC vô lục soát 2 giờ không ra, sau đó chúng dụ mụ vợ gọi Anh ra để nhận chức vụ cũ không có gì thay đổi hết, bây giờ cách mạng thiếu người.

Bà vợ kêu: "Anh ơi, xuống đi, cách mạng đang cần Anh hợp tác, không bắt chi mô đừng sợ". Cứ ta bò xuống, bị bắt quỳ giữa sân và bắn 1 phát vào đầu.

Bọn chỉ điểm hồi đó tôi có biết mấy tên:

- Nguyễn Ðắc Xuân - Ðại học sư phạm văn khoa Huế

- Hoàng Phủ Ngọc Phan - sinh viên

- Hoàng Khiêu - Huấn luyện viên thể dục ở tại tiểu bang Washington

- Nguyễn thị Ðoan Trinh - sinh viên - Con ông Nguyến Ðoá dạy Pháp văn trường Bồ Ðề Huế

- Nguyễn Khắc Từ - huynh trưởng gia đình phật tử toàn quốc - sau đó vượt biên bị bắt chết trong tù.

  

Tôi viết bài nầy thân tặng các bạn trẻ chưa từng chứng kiến hoặc các bạn già ở ngoài cuộc hoặc ngoài Huế đang còn tin theo sự bóp méo của VC mà coi thường sự độc ác gian manh của chúng. (Hồi ký của người lính già).

Hồ Đinh



Một Tunisia đang chờ đợi ở Việt Nam


Những cuộc nổi loạn thường có tính cố hữu là không thể ngờ trước được. Cuộc nổi dậy của giới trung lưu vừa qua ở Tunisia lật đổ chế độ của Tổng thống Zine el-Abidine Ben Ali chỉ có thể được giải thích khi nhìn lại rằng: rõ ràng là không một ai đoán được là nó sẽ xảy ra.

Các nhà phân tích hiện đang hướng vào tình trạng tức nước vỡ bờ của việc có quá nhiều sinh viên trẻ tốt nghiệp nhưng lại quá ít việc làm, cộng với một "nhà nước đạo tặc", và sự thất bại của guồng máy an ninh nhằm bảo vệ cho chế độ khi tình hình trở nên tồi tệ.

Nhiều nhà phân tích khác thì lại cân nhắc rằng không biết trường hợp điển hình ở Tunisia có sẽ được lập lại ở các nước Á rập láng giềng –trong đó có Algeria, Ai Cập và Yemen– hay không, và nếu có thì các nền dân chủ trên thế giới sẽ phải phản ứng ra sao để đối phó với sự rối loạn này.

Các bộ ngoại giao từ Hoa Thịnh Đốn, Luân Đôn, Đông Kinh đến Ba Lê và Bá Linh đang cố phỏng đoán xem thái độ nào thích hợp nhất để bảo đảm cho chính phủ của họ có khả năng tìm ra một căn bản đồng thuận để hợp tác với bất cứ thành phần chiến thắng cuối cùng nào, nếu một cuộc cách mạng thành công, nhưng sẽ không làm mất lòng mối quan hệ hiện hữu nếu các chính quyền đương thời thoát được khỏi cơn sóng gió này.

Và nếu họ khôn ngoan, thì họ sẽ không chỉ chú tâm vào các nước Ả rập.

Cuộc cách mạng tại Tunisia nhìn giống như các cuộc biểu tình làm rúng động chế độ Hồi giáo trị tại Iran cách đây hơn một năm. Nó không phải về vấn đề Hồi giáo nhưng đúng hơn là về công bằng xã hội và các quyền tự do cá nhân. Và nếu điều đó đúng thì các nhà phân tích phải xem xét sự thích đáng của nó đối với tất cả mọi quốc gia, bất kể Hồi giáo hay không Hồi giáo, trong từng giai đoạn khó khăn của các diễn biến.

Trong nhiều quốc gia đang phát triển, giáo dục và các mạng giao kết xã hội dựa trên kỹ thuật số đã làm cho giới trẻ thành thị nhận thức ra những gì họ còn bị thiếu sót. Ở vài nơi, họ không có những thứ mà người khác có thể mua sắm được nếu họ có một công việc làm ăn ổn định. Còn ở nơi khác, thì họ không có quyền được nói những điều họ nghĩ, hoặc quyền được bầu ra người lãnh đạo, chứ đừng nói đến việc thay đổi chế độ.

Việt Nam đang nằm trong trường hợp thứ hai.

Kể từ năm 1991, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã khá thành công trong việc đưa các thứ đến tay người dân. Một dân tộc vẫn còn bị ám ảnh bởi cái ký ức đói nghèo khốn khổ do sự thất bại của nhà nước Việt Nam muốn tạo dựng lên một chủ nghĩa xã hội hiện thực (1975-1986), hiện đang vui sướng với những gì mà mức thu nhập bình quân hàng năm 1200 đô la mang lại : nhà cửa tốt hơn, đủ ăn đủ mặc, xe gắn máy, tivi và tiền bạc để thỉnh thoảng tiêu xài vào vài thứ xa xỉ. Các cuộc thăm dò về chỉ số hạnh phúc của tạp chí Forbes thường cho thấy người Việt Nam là một trong những dân tộc lạc quan nhất khi cho rằng cuộc sống sẽ luôn tốt đẹp hơn.

Nhưng có một số nhỏ người Viêt Nam lại liên tục than phiền trên các trang blog, trên Facebook và cùng cho rằng vật chất giàu có vẫn chưa đủ, các quyền tự do chính trị căn bản còn thiếu sót. Cho đến nay thì đại đa số dân Việt Nam, nếu không muốn nói là tất cả, đều cho những kẻ đó là hay lắm chuyện, là những thành phần kỳ cục không chịu học hỏi để cùng đứng chung vào hàng ngũ. Họ nhún vai khi những kẻ bất mãn chế độ bị đánh đập hoặc bỏ tù vì các tội như "sử dụng mạng Internet để kêu gọi cho một hệ thống dân chủ đa đảng".

Thái độ thụ động về chính trị của phần lớn người Việt Nam không thể được giải thích rằng họ không biết gì về thế giới bên ngoài. Các tờ báo sống động, rõ ràng là không bị kiểm duyệt, đang thường xuyên đưa tin về các biến cố ở Tunisia và hiện nay ở Ai Cập từ khi chế độ của Tổng thống Ben Ali bị lật đổ vào giữa tháng vừa qua. Và cũng như khi các cuộc bạo loạn làm náo động Bangkok cách đây một năm khi các tờ báo cũng đưa tin theo kiểu vuốt đuôi, với một cảm nghĩ chung có vẻ như "cám ơn Trời Phật là điều đó không xảy ra ở đây"

Trong một đất nước từng chính thức cho mình là một xã hội công bằng dân chủ văn minh, nhưng bây giờ lại là nơi việc khoe khoang sự giàu có lại là chuyện bình thường, nhiều thành phần trẻ có học ở thành thị đơn thuần chỉ khao khát làm thế nào để đạt được điều thô thiển như thế. Hầu như mọi người đều tin rằng bằng cách chăm chỉ làm việc và với một chút may mắn, sẽ đưa đến một đời sống tốt đẹp dễ dàng hơn.

"Chỉ số thịnh vượng" của Legatum Institute, là một bản phân tích tổng hợp được công bố vào ngày 26/1, cho biết Việt Nam đã nhảy vọt lên 16 hạng từ năm ngoái và hiện đang ở hàng thứ 61 trong 110 quốc gia được thăm dò. Tunisia đứng hàng thứ 48 trong bản "đánh giá về thịnh vượng và hạnh phúc trên toàn cầu "

Một đại hội đảng CSVN vừa tân trang lại thành phần lãnh đạo chóp bu, đưa lên một số và cho về hưu vài người. Qua dư luận xôn xao người ta thường nghe trong suốt trong các buổi họp như thế rằng thì là đại hội nhấn mạnh vào tầm quan trọng trong việc tiếp tục thực hiện tăng trưởng kinh tế, Không phải chỉ tăng trưởng về số lượng nhưng lẫn cả chất lượng — tức là kiểu đầu tư và chính sách kinh tế nhằm đưa Việt Nam ra khỏi hàng ngũ các nước chỉ chuyên về xuất cảng nguyên liệu thô và các mặt hàng gia công trong các xưởng vắt mồ hôi .

Đó là một điều hứa hẹn mà chế độ Hà Nội có thể không thực hiện được. Có lẽ các uỷ viên trong đảng đều hiểu rằng cái danh nghĩa cầm quyền chính đáng của họ bây giờ tuỳ thuộc rất mật thiết vào việc làm sao đưa mức sống người dân lên cao hơn bao giờ hết, và họ sẽ thực hiện một cách phù hợp. Nhưng dường như có vẻ chắc chắn rằng những thành phần cải cách trong đảng sẽ tiếp tục gặp phải nhiều khó khăn vì một hệ thống xơ cứng điển hình qua việc mua quan bán chức, tham nhũng tràn lan và nạn quan chức lộng quyền ở địa phương.

Nếu sự tiến bộ về kinh tế của Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua bị gián đoạn hoặc đình trệ, thì hỗn loạn sẽ xảy ra. Hàng triệu thanh thiếu niên lái xe gắn máy, đứa nào cũng có điện thoại di động 3G –ai đã từng chứng kiến các cuộc ăn mừng chiến thắng của đội tuyển bóng đá quốc gia đều có thể hình dung được chuyện gì sẽ xảy ra nếu sự cuồng nhiệt ấy được biến thành nỗi bất mãn về chính trị. Và nếu như ở Tunisia tình hình đã chuyển sang một thái độ dứt khoát đáng sợ, nếu một sự chạm trán xảy ra khiến một hay hai người phải hy sinh, nếu hàng ngàn người cùng thách thức cái quyền lực đương thời, thì liệu chế độ có thể dựa vào thành phần đang bảo vệ họ là Công an Nhân dân?

Việt Nam là một quốc gia 86 triệu dân, có một lực lượng công an gồm 1 triệu 200 ngàn người theo một ước lượng của nhà phân tích an ninh có uy tín là giáo sư Carl Thayer. Cùng với nhau thì công an Việt Nam có bộ dạng của một lũ tham nhũng, lạm dụng quyền lực, có mặt khắp mọi nơi mà người dân nào cũng muốn tránh xa đến độ càng xa càng tốt. Về mặt cá nhân, thì hầu hết tất cả các nhân viên công an –như được biết trong trường hợp ở Tunisia– là những kẻ xuất thân từ thành phần dưới của giai cấp trung lưu, họ coi việc gia nhập vào lực lượng công an là một cách để dễ dàng tiến thân.

Các đơn vị công an đặc biệt tỏ ra rất xuất sắc trong việc theo dõi và bóp nát những người Việt Nam nào chia sẻ các tư tưởng chống đối chế độ với người khác. Các quan chức phụ trách an ninh trong nước thường xuyên cảnh báo rằng các thế lực thù địch với Việt Nam có ý định phát động một cuộc "cách mạng màu sắc" kiểu Đông Âu. Công an được trợ lực bằng các điều luật nghiêm cấm việc thành lập các tổ chức hội đoàn độc lập, là sức mạnh của một xã hội dân sự ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới.

Các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam dường như bị cô lập và còn lại rất ít, và khi nào điều đó vẫn còn, thì họ không phải là đối thủ ngang hàng với công an.

Nhưng giả sử như nếu tăng trưởng kinh tế bị gián đoạn hoặc đình trệ? Giả sử nếu một thanh niên Việt Nam với mảnh bằng đại học không thể nào tìm được việc làm ổn định, phải mở ra một quầy hàng bán dưa hấu bên vệ đường? Rồi giả sử như nếu công an bắt anh ta vì buôn bán không có phép tắc và tịch thu đồ nghề của anh ta? Giả sử như nếu anh ta đi kêu oan nơi nhà chức trách đương thời và bị nhục mạ và làm ngơ?

Những chuyện này xảy ra rất thường xuyên ở Việt Nam. Và giả sử như nếu người bán hàng trẻ tuổi, có học đó đến trước một văn phòng đảng uỷ địa phương tưới xăng lên người và tự thiêu?

Phan Lưu Quỳnh phỏng dịch theo "Vietnam as Tunisia in waiting", Asia Times 29/1/11


Ăn tết với nước máy đục đen


TTO - Đêm 30-1, người dân ở hẻm 308 đường Hoàng Văn Thụ, P.4, Q.Phú Nhuận (TP.HCM) phản ánh qua đường dây nóng báo Tuổi Trẻ nước máy khu vực này bị đục nặng.

Nước máy nhà 308/30 có màu đen, bốc mùi hôi thối như nước cống

Cụ thể, hộ ông Ba Lớn (308/39) nước đục từ sáng đến nay, ban đầu có màu vàng rồi chuyển sang màu đen xì giống như "nước nhúng giẻ lau nhà".

Các hộ dân khác như nhà anh Thắng (308/30), chị Bé (308/46), ông Lê Quang Hùng (308/41)… cũng lâm vào tình cảnh tương tự khi nước có màu đen, bốc mùi hôi thối như nước cống.

Người dân cho biết sáng nay khu vực này bị cúp nước và sau đó có lại với tình trạng đục như trên. Hộ dân nào trong khu vực này cũng "đau đầu" khi gần tết nhu cầu nấu nướng nhiều nhưng nước máy lại bị nhiễm bẩn nặng.

NGUYỄN NAM


Chen chân mua sắm lúc nửa đêm


Chủ nhật, 30/1/2011, 14:40 GMT+7

Siêu thị Big C lúc 22h ngày 29/1 (tức 26 Tết âm lịch), từng dòng người vẫn ùn ùn đổ về đây mua sắm. Hơn 100 quầy thu ngân lại đây đều hoạt động hết công suất. Theo nhân viên bảo vệ tại siêu thị này, đây chưa phải là thời điểm đông nhất. Ông này cho biết vào buổi trưa các ngày giáp Tết, lượng khách có thể tăng tới gấp 3 gấp 4 và người đi mua hàng không những chen lấn mà chỉ có thể nhích từng bước một.
Sốt ruột đứng chờ đến lượt mình thanh toán.
Nhân viên quầy thu ngân cũng cảm thấy bị áp lực trước cả đống đồ đang chờ đến lượt thanh toán.
Không thể chen được với dòng người đông đúc, người đàn ông này phải công kênh cô gái nhỏ trên vai.
Không chỉ bánh kẹo, mứt Tết, các câu đối, bao lì xì cũng được đông đảo khách hàng tìm mua.
Những quả dưa hấu vuông màu vàng mọng gây được sự chú ý của khách tới siêu thị. Giá mỗi quả dưa này là 1,5 triệu đồng.
Thiếu nữ tần ngần chưa biết chọn loại ô mai nào, dù rằng chỉ còn 20 phút nữa, BigC sẽ đóng cửa. Các sản phẩm ô mai cũng được nhiều người lựa chọn trong rổ hàng hóa của mình.
Lúc 22h40, quầy bán các sản phẩm như giò lụa, giò bò xúc xích, thịt chân giò hun khói... đã được vét sạch. Theo tiết lộ của nhân viên bán hàng, các sản phẩm này liên tục bổ sung song dường như vẫn không đủ để đáp ứng sức tiêu thụ cực lớn của người tiêu dùng.
Quầy mứt Tết trống trơn trước giờ đóng cửa. Đây cũng là một trong những mặt hàng được người tiêu dùng mua nhiều nhất trong Hệ thống siêu thị BigC trong những ngày qua.
Khách hàng cuối cùng tính tiền và chuẩn bị rời khỏi siêu thị.
23h, thời điểm cuối cùng của ngày, các nhân viên siêu thị lại làm công việc thường nhật - phân loại và sắp xếp lại những xe hàng mà khách đã chọn nhưng không đủ kiên nhẫn chờ đến lượt thanh toán. Theo ước tính của BigC, những ngày giáp Tết, doanh thu bán hàng của hãng một ngày lên tới 10-15 tỷ đồng.

Ảnh: Nhật Min
h


Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty