TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Monday, May 2, 2011

Một lá thư trần tình hay nhất thế giới


In
Chủ nhật, 01 Tháng 5 2011 09:57
Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:

"Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ".

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.

image
Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

- "Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì". Họ còn hỏi nhau:

- "Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?"

image

Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:

- "Quân không Tướng chỉ huy thì sao?" Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:

- "Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng".

image

Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:

image

"Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?"

Lại có người nghiêm khắc trách tôi:

"Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?"

image

Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét "theo tầm hiểu biết của họ". Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng "buông súng" rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?

image

Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: "Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm". Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc "kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất."

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:

image
"Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản.
Tử chiến đến cùng"

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi "ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản." Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.

image

Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.

image

Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:
"Có đồng ý đem con lánh nạn không?"

Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:

"Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?" Tôi đáp:

"Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản".

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú.

image

Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:

image
"Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…".

image

Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

"Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng".

Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:

"Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh".

Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:

"Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào".

image

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.

image
7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:

"Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ".

Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:

"Em phải sống ở lại nuôi con".

Tôi hoảng hốt:

"Kìa mình, sao mình đổi ý?"

"Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con."

"Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc".

"Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta".

"Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?"

Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:

"Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?"

Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:

"Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế".

image

Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:

"Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào".

Tôi phát run lên hỏi:

"Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?"

Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:

"Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình".

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:

"Vâng, em xin nghe lời mình".

Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:

"Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi".

"Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?"

Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:

"Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh".

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:

"Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó".

Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:

"Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên".

Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.

Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:

"Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.

image
Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh".

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:

"Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả".

image

image

Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

"Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết".

Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

"Nghĩa trở lại với tôi".

Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:

image

"Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?"

Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

"Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!"

Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:

"Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!"

Tôi bảo Giêng:

"Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng".

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:

image

"Alô, Alô, ai đây?"

"Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây". Tôi bàng hoàng:

"Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?"

Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:

"Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút". Tôi lúng túng vài giây:

"Ông đang điều động quân ngoài kia".

"Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?"

"Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé".

Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:

"Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?" Nghĩa lúng túng:

"Cô nói Thiếu Tướng chết rồi".

"Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng".

image
Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:

"Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?"

"Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?"

"Cẩn vui lòng chờ chút".

Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:

"Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?"

Cẩn đáp thật nhanh:

"Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!"

"Tốt lắm, vậy thì y lịnh".

"Dạ, cám ơn chị".

Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:

image

"Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!"

"Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!" Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.
image

11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam:

"Alô, chị Hưng!"

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:

"Thưa Thiếu Tướng…"

Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:

"Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng".

Tôi vẫn nức nở:

"Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?"

"Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình".

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:

"Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?"

"Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?"

"Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?"

"Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản".

"Còn mấy chú đâu hết?"

"Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng"

"Chị tẩm liệm Hưng chưa?"

"Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới".

"Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên".

"Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?"

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:

"Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót".

Người chép miệng thở dài:

"Thôi chị Hưng ơi".

Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:

"Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước".

Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:

"Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới".

"Dạ, cám ơn Thiếu Tướng".

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.

image
Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:

image

Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.

Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.

image

Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?

image

Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.

Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.
Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.

image
image
Anh không chết đâu Em
image

image

image


http://www.youtube.com/watch?v=Wozqf1ZQzUU&feature=related

image


Sunday, May 1, 2011

Tiền mệnh giá thấp mất chỗ đứng


Những đồng tiền mệnh giá nhỏ 200 đồng, 500 đồng thậm chí 1.000 đồng đang mất dần chỗ đứng. Nguyên nhân một phần là giá cả leo thang, tiền mệnh giá nhỏ khó có thể mua được một món hàng.
>Nộp tiền lẻ vào ngân hàng phải mất phí 
>Bức xúc khi bị trả lại tiền lẻ thừa bằng kẹo

Bà Thìn ở đường Nguyễn Tuân (Hà Nội) kể với VnExpress.net, có một xấp tiền lẻ 200 đồng là lộc đi lễ chùa, sáng 29/4 bí quá, bà mang ra chợ mua rau. Cô bán hàng ngập ngừng mãi mới nhận. Thời điểm các loại rau củ đồng loạt tăng giá, cầm tờ 500 đồng từ khách mua hành, cô bán rau hết nâng lên đặt xuống mấy cọng hành rồi chép miệng: "Giờ 1.000 đồng mới bõ bán. Chứ với 500 đồng chẳng lẽ bán cho bác một cọng hành?".

Chị Hằng, bán rau tại chợ Năm Tầng trên đường Hồ Tùng Mậu cho hay, nhiều khi chính những người bán hàng cũng không có đủ tiền lẻ để trả lại khách. Tuy nhiên, từ khoảng hai năm nay, cô đã không nhận tiền mệnh giá 200 đồng, thậm chí chấp nhận cho khách nợ tiền hàng và mặc định là mất luôn.

Dễ rách, nhanh cũ và nhanh bẩn và có giá trị thấp được cho là một trong những nguyên nhân khiến cho không ít người không thích tiêu tiền lẻ. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Nhanh cũ, chóng bẩn và có giá trị thấp được cho là một trong những nguyên nhân khiến tiền lẻ mất giá trị sử dụng. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Có đợt chị cầm về nhà gần 20.000 đồng toàn tiền 200 đồng, định bụng để khi nào có dịp đi lễ chùa. Thế rồi, để lăn lóc trong ngăn kéo tủ. Một tuần sau Chị phát hiện cậu con trai học lớp 4 đã dùng mớ tiền lẻ đó để gấp máy bay, xếp hình trái tim tặng bạn.

Không chỉ 200 đồng, tiền lẻ mệnh giá lớn hơn như 500 đồng hay 1.000 đồng cũng đang dần không được coi trọng. Nguyên nhân, phần là vật giá leo thang chóng mặt, phần là thói quen không thích tiêu tiền lẻ và sự lãng phí của một bộ phận không nhỏ người dân.

Hiện tại, 500 đồng hoặc 1.000 đồng cũng không mua nổi một gói dầu gội đầu hoặc gói sữa tắm. Trà đá giờ cũng tăng giá lên tới 2.000 đồng. Nhiều người còn bảo, đồng tiền lẻ mất giá tới mức cách đây một năm, trẻ con vẫn thích thú khi được cho 1.000 đồng đi mua quà vặt, thì hiện tại, cho 500 đồng và 1.000 đồng, chúng cũng ngật ngừ vì chẳng thể mua được gói bim bim.

Chị Hồng ở Nam Đồng, Hà Nội kể, mỗi lần đi chợ về thừa 500 hay 1.000 đồng, chị đều vứt vạ vật mỗi xó một tờ, từ túi áo, túi quần đến góc tủ, ngăn kéo... "Chỉ bẵng đi mấy ngày là quên, đến khi nhìn thấy thì tiền đã bị gián, chuột gặm nham nhở".

Nắm được tâm lý coi nhẹ "vài đồng bạc lẻ" của khách, anh Công, một lái xe taxi tự do làm việc trên trục Cầu Giấy- Kim Mã cho hay, không ít lần anh "lợi dụng" thói quen "ghét tiền lẻ" của một số khách hàng để tăng thêm thu nhập. Bằng cách tính tròn số cước, chẳng hạn 19.000 đồng tính thành 20.000 đồng, 23.500 đồng tính thành 25.000 đồng..., anh sẽ hưởng được khoản tiền lẽ ra phải trả lại cho khách. "Không hiểu sao có người lại ghét tiền, chứ những người lao động như tôi, cầm một đồng trong tay cũng quý chứ đừng nói là vứt bỏ.", anh nói.

Tiền lẻ s
Tiền lẻ không mất đi mà sẽ song hành tồn tại với các đồng tiền mệnh giá to. Khi nó thực hiện hết sứ mệnh lịch sử của mình, tiền lẻ sẽ được thay thế bởi các đồng mệnh giá lớn. Ảnh minh họa: Tuệ Minh

Việc tiền lẻ loại 500 đồng, 1.000 đồng dần mất đi giá trị đang khiến nhiều người lo ngại một ngày nào đó các mệnh giá này sẽ bị xóa sổ hoàn toàn trong lưu thông.

Chị Thắm, nhân viên thu ngân một siêu thị cho hay, tiền lẻ các mệnh giá 500 đồng, 1.000 đồng có thời điểm trở thành hàng hiếm tại quầy thu ngân. "Nhiều khách cứ cằn nhằn khi bị nhân viên trả lại kẹo thay vì tiền lẻ nhưng chúng tôi cũng có cái khó là không có đủ tiền lẻ để đáp ứng. Trong khi đó, không ít người có thói quen ngán tiêu tiền lẻ mà lại để vương vãi ngoài lưu thông", chị nói. Tuy nhiên, chính nhân viên này cũng thừa nhận, hiện tại, loại tiền 200 đồng cũng không lưu thông được trong đa số các siêu thị hiện nay.

Trao đổi với VnExpress.net, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong- Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế (Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội) cho rằng, trong bối cảnh giá cả hàng hóa tăng cao như hiện nay, thì việc các đồng tiền lẻ mệnh giá thấp mất dần giá trị cũng không có gì khó hiểu. Ông Phong cho hay, đồng tiền mất giá là điều tất yếu khi lạm phát tăng cao. Không chỉ đối với các mệnh giá tiền nhỏ, mà thậm chí tiền chẵn cũng khó tiêu đối với một số dịch vụ, hàng hóa trong thời điểm hiện tại.

Theo ông Phong, tiền lẻ không mất đi mà nó tồn tại song hành cùng những đồng tiền mệnh giá to. Các nước trên thế giới cũng vậy. Và đến lúc nào đó, khi những tờ tiền mệnh giá nhỏ thực hiện hết sứ mệnh lịch sử của mình, nó sẽ được thay thế bởi những loại tiền mệnh giá cao hơn.

Hồng Anh- Tuệ Minh

Nạn nhân chết tại thẩm mỹ viện được chính giám đốc phẫu thuậ


Chủ nhật, 1/5/2011, 10:39 GMT+7

Sau khi được chỉnh sửa lại nhan sắc, người phụ nữ được đưa về phòng chăm sóc sau mổ. Sau gần một tiếng thấy chị Lộc điện báo khó thở và bị nôn, bác sĩ Ái đã huy động thêm 2 đồng nghiệp đến cấp cứu cho nạn nhân nhưng đã muộn.
Nữ kế toán trưởng chết ở thẩm mỹ viện

Chiều 30/4, bác sĩ Phạm Văn Ái - giám đốc phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ ở 257 đường Giải Phóng bị cảnh sát triệu tập.

"Suốt buổi làm việc, ông Ái tỏ ra khá hoảng sợ. Ông cho rằng thường các ca làm đẹp ông không trực tiếp làm nhưng ca này do hai học trò trực tiếp nhờ nên đã nhận lời...", một điều tra viên vụ án nói.

Nạn nhân được đưa ra khỏi phòng khám thẩm mỹ trưa 30/4. Ảnh: Thái Thịnh.
Nạn nhân được đưa ra khỏi phòng khám thẩm mỹ trưa 30/4. Ảnh: Thái Thịnh.

Bước đầu, theo lời khai, sáng 29/4, chị Bùi Bích Lộc (39 tuổi, ở phố Lê Duẩn, Hà Nội) có đến cơ sở thẩm mỹ trên để khám theo giấy hẹn. Sau khi hai bên thống nhất sẽ sửa lại mí mắt và nâng ngực, ca phẫu thuật được tiến hành lúc 13h cùng ngày.

Sau hơn một tiếng, ca chỉnh hình kết thúc. Nữ khách hàng này được chuyển về phòng chăm sóc sau mổ.

Rạng sáng 30/4, chị Lộc điện vào máy thông báo cho bác sĩ Ái rằng đang khó thở và bị nôn. Ông giám đốc đã điện cho 2 bác sỹ khác (không phải là người trực tiếp phẫu thuật ca của chị Lộc) cùng tham gia cấp cứu. Tuy nhiên, nạn nhân không qua khỏi và đã tử vong sau đó khoảng hơn một tiếng.

Ca phẫu thuật thẩm mỹ do ông Ái đảm nhiệm chính. Trong ca còn có một bác sỹ khác cùng 2 y tá.

Chiều 30/4, trao đổi với VnExpress.net, Giám đốc phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ cho biết đang phải làm việc với cơ quan điều tra. Ông từ chối trả lời những thông tin như nguyên nhân, thời điểm nạn nhân chết...

"Đúng sai thế nào tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cái gì xảy ra thì đã xảy ra rồi...", bác sĩ Ái nói.

Trang web quảng cáo có cả phần phẩu thuật nâng ngực, hút mỡ bụng... Ảnh: Chụp lại từ trang web.
Trang web quảng cáo có cả phần phẫu thuật nâng ngực, hút mỡ bụng... Ảnh: Chụp lại từ trang web.

Trên trang web đứng tên cơ sở của ông Ái sáng nay vẫn còn nguyên thông tin quảng bá các loại dịch vụ thẩm mỹ như: phẫu thuật cắt bỏ da thừa mí trên, phẫu thuật nâng cao sống mũi, phẫu thuật tạo hình má lúm đồng tiền... Trong số này có cả phẫu thuật nâng ngực, phẫu thuật thu gọn ngực, hút mỡ bụng.

Trích lời giới thiệu trên trang web Thẩm mỹ viện Hà Nội

Ông Nguyễn Việt Cường, Chánh thanh tra Sở Y tế Hà Nội cho biết, Thẩm mỹ viện Hà Nội - nơi xảy ra vụ việc, có giấy phép hành nghề phẫu thuật thẩm mỹ. Tuy nhiên theo quy định thì chỉ được làm những thủ thuật đơn giản như: cắt mí mắt, xăm mắt… Còn nâng ngực, hút mỡ bụng, mỡ đùi… thì không được phép.

"Thẩm mỹ viện Hà Nội của ông Ái đã bị xử phạt hành chính về hành vi kinh doanh, phẫu thuật một số mục không có phép và quảng cáo sai với giấy phép đăng ký kinh doanh", một điều tra viên nói.

Trước đó, sáng 30/4, sau khi xảy ra vụ việc, cảnh sát cùng cán bộ ngành y tế đã có mặt tại hiện trường. Ông Hoàng Tuấn Tú - Giám đốc công ty nơi nạn nhân làm việc cho biết, nữ kế toán trưởng này chưa có gia đình, không có bệnh tật và hoàn toàn khỏe mạnh. Chị ta vẫn thường hay đi chơi thể thao.

Vụ việc đã báo cáo lên Giám đốc công an thành phố Hà Nội.

Thái Thịnh

BÀ NGÔ ĐÌNH NHU, NĂM MƯƠI NĂM CÔ ĐƠN



 Tin từ Ngô Đình Trác báo cho ông bạn tôi, Luật sư Trương Phú Thứ, hay rằng Bà quả phụ Ngô Đình Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, đã về Nước Chúa lúc 2 giờ sáng ngày lễ Phục Sinh, 24/4/2011, hưởng thọ 87 tuổi.

 Tôi viết bài này gửi các thân hữu, bạn bè, và những người mà tôi biết chắc vẫn còn ái mộ, quý mến  –hoặc ít ra không thù ghét– Bà Ngô Đình Nhu, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Không như những phản tướng 1963, tôi chưa hề gặp mặt Bà Nhu, chưa hề nhận ân sủng nào của Bà hay của chế độ, ngoài một trăm đồng Bà tặng Hội JECU (viết tắt của “Jeunes Etudiants Catholiques Universitaires,” -  Thanh Sinh Công Đại Học) năm xưa, được Ngô Đình Lệ Thủy trao cho tôi.

 Bà Ngô Đình Nhu là người nổi tiếng thuộc dòng họ Ngô Đình và người liên hệ trực tiếp với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa duy nhất còn sống sót vừa ra đi.

 Dù thương hay ghét Bà, ai cũng phải công nhận Bà là một nữ lưu thông minh, có tài có sắc, một cộng sự viên đắc lực, quả cảm của chồng và anh chồng. Qua hai nền Cộng Hòa, chưa có một phụ nữ tầm cỡ public figure (người của quần chúng) Việt Nam nào làm tôi thấy cảm phục và hãnh diện như Bà Ngô Đình Nhu. Cho dù, dĩ nhiên, Bà chưa hoàn hảo, cũng như bất cứ ai trên đời. Trước và sau vụ đảo chánh 1963, Bà là mục tiêu tấn công của những nhà báo và chính khách Việt Nam và ngoại quốc, nhất là Mỹ, chưa nói Cộng sản đội lốt tôn giáo, đối lập, “cách mạng,” đã không ngần ngại vu khống, xuyên tạc, đổ lỗi, thêu dệt đủ điều, kể cả về đời tư của Bà. Đọc tất cả những tài liệu đã được giải mật, và những sách báo cũ, và những sách báo mới trên các Diễn Đàn Hải Ngoại –những diễn đàn của Đui Chột, của Thù Hận, của Ác Độc– tôi thấy bất nhẫn và buồn nôn trước sự hèn hạ, nhỏ nhen của con người, vì dù sao Bà cũng chỉ là một phụ nữ. Bọn họ, kể cả Mỹ và Tây Phương, không mã thượng, anh hùng đủ, than ôi, để đánh Bà bằng một cành hoa hồng, nhưng đã dùng mọi thứ dao búa. Họ dã man, trên phương diện tinh thần, không khác chi một Gia Long đã hành hình, về thể xác, nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái 16 tuổi bằng cách cho voi dày.

 Bà là hiện thân và nạn nhân của Bất Hạnh như một nữ nhân vật chính tuyệt đẹp trong những vở bi kịch Hy Lạp. Nhưng khác với họ luôn vùng lên, phản kháng, chất vấn Thượng Đế, Bà đã im lặng, chấp nhận mệnh số nghiệt ngã, và âm thầm chịu đựng tất cả những oan khiên, bất công, suốt một nửa thế kỷ.

Một điểm nữa, ngời sáng, về con người của Bà, mà tôi tin rằng đến cả kẻ thù cũng không thể phủ nhận. Khi chồng bị thảm sát, Bà còn trẻ đẹp lắm  điều mà báo chí Mỹ thiên vị và ác độc cũng phải ca ngợi. Nhưng Bà ở vậy, thờ chồng, nuôi đàn con còn vị thành niên, không có của chìm của nổi, không lầu son gác tía, nhờ tham nhũng hoặc ăn cắp của công. Nếu có bằng chứng Bà phạm vào hai điều cấm kỵ này, chắc chắn báo chí và công luận Mỹ và Việt Nam, vốn thù nghịch, đã không bao giờ để Bà yên. Bà sống khép kín như một nữ tu tại gia. Không xuất hiện trước đám đông. Không cho nhân gian thấy tóc đổi màu, những dấu chân chim in trên đuôi mắt và những tàn phai bởi thời gian, theo gương những mỹ nhân tự thuở xưa. Không tuyên bố này nọ. "Thời của tôi qua rồi,” bà thường nói với những người quen biết, như một lời giã biệt thế gian. Không mang tiếng, không bồ bịch, không bước thêm bước nữa. Không vì tiền bán thân cho tỷ phú. Nếu sống vào thời quân chủ, Bà xứng đáng nhận lãnh bằng khen "Tiết Hạnh Khả Phong.”

Bấy nhiêu thôi cũng đủ làm tôi yêu mến Bà như một người mẹ (bà kém mẹ tôi hai tuồi). Ca ngợi Bà như một nữ chính khách một thời sáng giá, đảm lược, dám nói dám làm, như chồng Bà, trước vòng vây khốn của thù trong giặc ngoài. Kính trọng Bà như một thần tượng. Làm sao tôi không xúc động khi nghe tin Bà đã bước vào một cuộc hành trình cuối cùng, ngày Chúa chết trên cây thập giá và sống lại, để từ nay vĩnh viễn thuộc về của Tuổi, nói theo Edwin Stanton, belongs to the Ages. 

Nhà danh họa thuộc phái ấn tượng Auguste Renoir của những tuyệt phẩm chan hòa ánh sáng và màu sắc, những năm cuối đời, bị bệnh thấp khớp hành hạ, không đứng được nữa, phải ngồi vẽ tranh một cách đau đớn với bàn tay co quắp, nhức buốt. Người học trò của ông, danh họa Matisse, thấy vậy, thương ông, đã hỏi: “Tại sao Thầy phải tiếp tục ngồi vẽ một cách khổ sở như thế?” Renoir nhìn khung vẽ, trả lời: “Đau đớn sẽ qua đi. Cái đẹp sẽ còn lại.”

Tôi muốn nhắc lời của Renoir, để nói về Bà, trong một nghĩa nào. Đau đớn tinh thần của Bà Ngô Đình Nhu sẽ qua đi. Cũng như đau đớn thân xác của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nhưng vẻ đẹp của Bà sẽ tồn tại. Vĩnh viễn.

 Tôi biết những kẻ chống và ghét Bà sẽ khó chịu vì bài viết của tôi. Không sao. Đời mà. Tuy nhiên, xin những kẻ ấy xử sự cao thượng một chút, như một con người. Hãy để Bà yên nghỉ, ít nhất trong thời gian này. Chờ sau ba tháng, một năm, mười năm nữa, rồi hãy chìa ra nanh vuốt, cũng chưa muộn.

 Tôi muốn báo tin cho các thân hữu của tôi và xin họ đọc một kinh, cầu nguyện cho linh hồn Bà mau về Cõi Vĩnh Hằng, và tìm được Bình An đích thực. Sau năm mươi năm cô đơn.

 Kim Thanh Nguyễn Kim Quý

Ngày Chúa sống lại 24/4/2011

Cờ Vàng Tung Bay trên Thành Phố Cần Thơ ngày 30 tháng 4 năm 2011


30/4/1975, ngày quốc hận ấy Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt quốc gia đã bị hạ xuống bởi những người Cộng Sản chiến thắng, từ ngày vắng bóng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên quê hương miền Nam Việt Nam thì ngày đó không còn tự do. Trong ngày Quốc Hận 30/04 thứ 36 năm nay, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại tung bay ở miền Tây do thanh niên sinh viên Cần Thơ treo lên ở thành phố Cần Thơ để nhớ lại những ngày sống trong không khí thanh bình của tự do của đời người.

Từ ngày lá cờ Đỏ Sao Vàng chiến thắng tung bay, là ngày mà người dân bắt đầu cuộc sống trong không khí đầy ngột ngạt, khó thở…thanh niên sinh viên Cần Thơ đâu có muốn hít thở không khí độc tài ngột ngạt ấy. Hôm nay những người Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ phải đi tìm không khí tự do ngày nào.

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tượng của tự do bay trên đường phố Cần Thơ sau 36 năm vắng bóng. Chắc đồng bào Cần Thơ tim đập mạnh hồi hộp khi thấy bóng dáng biểu tượng này…đừng ngạc nhiên sẽ có ngày cờ này tung bay trước mọi nhà, trên đường phố, lúc ấy tràn đầy không khí tự do để hít thở.

Ngày này, 36 năm về trước cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị hạ xuống, giờ đây đang sừng sững trở về phất phới trên đường phố thơ mộng Cần Thơ. Thanh niên sinh viên Cần Thơ chỉ mong sao dân tộc Việt Nam được tự do và hạnh phúc. Tự do và hạnh phúc đích thực có được khi chế độ độc tài không còn ngư trị trên quê hương Việt Nam…mộng ước của tuổi trẻ bao giờ cũng ước mơ cho tương lai của dân tộc đi lên, mộng ước của người thanh niên sinh viên đến trường để mở rộng kiến thức, để có tầm nhìn ra xa thế giới văn minh không thể cúi đầu sống trong ao tù của nô lệ độc tài mãi mãi được…

Đêm nay cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay trên đường phố Cần Thơ là một biểu tượng tự do đang đến với đồng bào Cần Thơ, đang đến với người Việt….xin các bạn thanh niên sinh viên, xin mọi mọi người hãy đón nhận nó như một biểu tượng tự do chứ không phải của một kẻ thù như sự tuyên truyền thiếu lương thiện…

Lời của Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

http://thanhniensinhviencantho.tuoitreyeunuoc.com

Dưới đây là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tự do bay trên thành phố Cần Thơ 30/04/2011

 

32
0
 
Rate This

Săn món 'độc' cho những ngày nghỉ


Chủ nhật, 1/5/2011, 07:08 GMT+7

Nếu trước đây, các loài côn trùng như: rắn, rết, bò cạp, gián, kỳ nhông, sâu dừa, giun, ve sầu... là nỗi ngại ngần của nhiều người thì hiện nay chúng trở thành món khoái khẩu của giới sành ăn ở Sài Gòn.
Mỳ Quảng - món ăn bình dị, dân dã'Túi khôn' trong món ăn dân gian

Có mặt tại quán Thu Hiền (Thủ Đức), thực khách tên Tâm cho biết, những nhà hàng có các món lạ như thế này ở Sài Gòn không nhiều nên phải chịu khó "lùng" nếu muốn thưởng thức.

Theo khảo sát của VnExpress.net, một số địa điểm khác cũng có bán các món này như: làng nướng Đồng Quê (đường Lê Trọng Tấn, Bình Hưng Hòa, Bình Tân, TP HCM); quán nướng trên đường Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp; một số quán ăn bình dân trên đường Tân Kỳ Tân Quý, quận Bình Tân.

1. Đuông dừa (sâu dừa):

Đuông dừa giống như sâu khoai, sống ở trong lõi cây dừa và thường to bằng một ngón tay người. Đuông bắt đầu được ưa chuộng rộng rãi và trở thành đặc sản ở Việt Nam từ khoảng chục năm nay. Con vật này sống trong thân cây dừa nên rất sạch và có nhiều protein có lợi cho sức khỏe. Người ta thường nướng muối ớt và ăn sống (để con vật bơi trong chén nước mắm cho thấm rồi đưa lên miệng ăn).

Thịt đuông rất ngọt, thơm, dai. Giá bán khoảng 5.000 đến 10.000 đồng một con. Riêng các món nướng, chiên, hấp lá chanh, sâu xiên nướng, chiên nước mắm với giá khoảng 150.000 đồng một kg.

Đuông dừa nướng ăn rất bùi, béo và thơm là món đặc sản của miền Tây. Ảnh: Thi Trân.

2. Kỳ nhông (Giông):

Kỳ nhông phổ biến ở Bình Thuận. Thịt con vật này ăn rất thơm, dai và chứa nhiều chất dinh dưỡng. Người ta thường chế biến kỳ nhông thành các món như gỏi kỳ nhông lá me, nướng, canh chua lá me, nướng muối hoặc hầm thuốc bắc.

Món kỳ nhông nướng. Ảnh: bayduckynhong.blogsport.com.

3. Bò cạp, bọ hung, bọ xít:

Thịt bò cạp giàu protein và axit amin giúp làm tăng sức đề kháng. Người ta thường chế biến thành món nướng hoặc xông khói. Giá bán khoảng 50.000 đồng một đĩa chừng 5, 6 con. Tương tự như bọ cạp còn có các món: bọ hung nướng, bọ xít nướng.

Một đầu bếp có kinh nghiệm cho biết, đối với các loại bọ này chỉ cần ngâm vào nước sôi một lúc rồi hút chất hôi trong cơ thể chúng ra là sẽ rất thơm ngon, bổ dưỡng và khi ăn sẽ thấy được sự ngọt, giòn và thơm riêng của từng côn trùng.

Món bò cạp nướng nguyên con. Ảnh: Thi Trân.

4. Ve sầu, cào chào, châu chấu, gián:

Ve sầu giòn, bùi và thơm thường được chế biến thành món nướng hay chiên giòn với giá 50.000 đồng một đĩa khoảng 60 con. Bên cạnh đó, các món châu chấu rang, cào cào rang hay đặc biệt là móm súp gián cũng được nhiều người ưa chuộng.

Trong số các loại côn trùng này thì gián là khó ăn nhất vì có mùi hôi khó chịu. Theo các đầu bếp ở đây cho biết, để không bị hôi thì khâu chế biến phải làm thật kỹ. Gián được hút chất hôi ra rồi đem lên nấu với cải trắng hoặc cải thảo, thêm chút trứng và gia vị sẽ thành món súp là "cực đỉnh".

Ve sầu, món ăn đặc sản, phổ biến nhất vào mùa hè. Ảnh: Thi Trân.

5. Giun đất, giun biển (sá sùng):

Người ta chọn những con giun to bằng ngón tay, càng to càng tốt. Món này thường được các đầu bếp ngâm trong nước muối rồi đưa ra cho khách ăn sống. Khách chỉ cần đưa lên miệng, con giun sẽ tự chui vào giống như món thằn lằn sống. Thịt giun có thể chữa bệnh được sốt rét và hiện nay cũng phổ biến ở nhiều vùng quê, người ta bắt đem về làm sạch và nấu canh. Trong y học cổ truyền Việt Nam, giun đất cũng được dùng để trị suy nhược cơ thể, cao huyết áp, sốt rét, sốt nóng...

Món giun biển rất phổ biến ở Khánh Hòa chế biến thành món nướng hoặc nấu lẩu. Cách làm thịt sá sùng rất công phu, cẩn thận, ruột phải làm thật sạch, nếu không sẽ rất tanh. Thịt giun biển giòn, dai, ăn sần sật, có vị béo, ngọt và thơm thường ăn kèm với xoài xanh, tỏi, sả, rau thơm, ớt. Giá món này khoảng 65.000 đồng một dĩa.

Món giun biển nướng. Ảnh: vuontinhnhan.net.

6. Rết:

Rết thường được chế biến làm gỏi với bắp chuối hột, đu đủ xanh, ngó sen, bắp cải, dưa leo, cà rốt. Lúc ăn, chấm với nước mắm hòn với tỏi, ớt, chanh. Ngoài ra còn có món rết chiên giòn hoặc nướng mọi ăn rất bùi và thơm.

gád
Rết chiên giòn. Ảnh: Thi Trân.

7. Chuột đồng:

Loài gặm nhấm này được nhiều người sành ăn ưa chuộng vì mùi thơm như thịt gà nhưng mềm và dai hơn. Thịt chuột đồng được chế biến thành các món như: nướng muối ớt, xào dưa.

Một chủ quán ở đây cho biết, các loại côn trùng, động vật ở đây thường được lấy mối từ các tỉnh miền Tây lên, song nguồn cung đang ngày càng khan hiếm. Đặc biệt là vào các dịp lễ lớn khách đến ăn rất đông nên nhiều người phải gọi điện đặt hàng trước cả tuần mới có.

Chuột đồng nướng được đông đảo thực khách ưa chuộng. Ảnh: Thi Trân.

Thi Trân

Phát hiện hơn 300 dự án nhà nước thất thoát lãng phí


Hơn ba trăm dự án sử dụng vốn Nhà nước trong năm qua bị phát hiện có thất thoát, lãng phí và gần 270 dự án phải ngừng thực hiện, hằng trăm dự án khác phải thu hồi giấy chứng nhận đầu tư trong năm qua.

Đó là thống kê do Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam đưa ra, và theo cơ quan này thì tình trạng tiến độ đầu tư bị chậm ở mức gần 10%. Lý do làm chậm tiến độ đầu tư được cho biết vì giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu.

Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam kiến nghị thủ tướng chính phủ chỉ đạo cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện công tác giám sát ngay từ khâu qui hoạch, lập dự án, thẩm định, phê duyệt, cấp giấy chứng nhận và bố trí vốn đầu tư… Những biện pháp đó nhằm bảo đảm hiệu quả của dự án.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

CPJ kêu gọi trả tự do cho ông Vi Đức Hồi


Ủy ban Bảo vệ Nhà báo, CPJ, kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho nhà bất đồng chính kiến Vi Đức Hồi, người vừa bị tòa phúc thẩm tỉnh Lạng Sơn tuyên án 5 năm tù và ba năm quản chế về tội danh tuyên truyền chống nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ.

Trong thông cáo đưa ra hôm qua CPJ cho rằng những kêu gọi cải cách dân chủ mà ông Vi Đức Hồi đưa ra khiến cho chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lo ngại.

Ông Shawn Crispin, đại diện cao cấp của CPJ tại Đông Nam Á cho biết như vừa nêu và còn kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông Vi Đức Hồi, cũng như những nhà báo và blogger khác tại Việt Nam đang bị nhà cầm quyền giam giữ.

Ông Vi Đức Hồi, nguyên là cựu giám đốc trường Đảng ở tỉnh Lạng Sơn.

Ông bị bắt và đưa ra xét xử phiên sơ thẩm hồi ngày 26 tháng giêng với mức án 8 năm tù và năm năm quản chế về tội tuyên truyển chống nhà nước XHCNVN theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Phiên phúc thẩm hôm ngày 26 tháng tư này giảm án của ông Vi Đức Hồi xuống 5 năm tù giam và ba năm quản chế.

Ông Vi Đức Hồi là một trong 37 người được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammett năm 2009.

Ông Vi Đức Hồi vào Đảng Cộng sản năm 1980; ông bắt đầu lên tiếng đòi tự do dân chủ cho Việt Nam năm 2006, và ông bị khai trừ khỏi Đảng cộng sản vào năm 2007.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

Bùi Chát bị giữ ở Tân Sơn Nhất


Nhà thơ Bùi Chát, trở về Việt Nam sau chuyến đi Argentina nhận giải thưởng Tự do Xuất bản 2001, đã gặp trở ngại với công an và hải quan.

Courtesy tạp chí Da Màu

Từ trái sang: Giám đốc IPA Youngsuk "Y.S." Chi, Thị trưởng Mauricio Macri, và Bùi Chát tại lễ trao giải Tự Do Xuất Bản năm 2011 ở Buenos Aires hôm 25-4-2011.

Trả lời Đài Á Châu Tự Do vào lúc khoảng 10 giờ tối thứ Bảy 30-4, Bùi Chát cho biết ông còn đang bị giữ ở khu vực kiểm tra của hải quan sân bay Tân Sơn Nhất.

Bùi Chát là một trong những người chủ trương nhà xuất bản tự do mang tên "Giấy Vụn" ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tuần rồi ông Bùi Chát sang thành phố Buenos Aires của Argentina để nhận giải thưởng Xuất bản Tự do năm 2011 do Hiệp hội Các nhà xuất bản Quốc tế, IPA trao tặng, nhân hội chợ sách quốc tế lần thứ 37 tổ chức tại đó.

Cũng tin liên quan, Blogger Thiên Sầu, tên thật là Ngô Thanh Tú, được cho về nhà vào tối hôm qua sau sáu ngày bị phía cơ quan an ninh Việt Nam giam giữ.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

“Tiểu đội thép” hay là Tiểu đội NGU

Những cô gái 'thép' ở Truông Bồn
- Một trong những nhân chứng sống duy nhất của "Tiểu đội thép" - Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông còn nhớ như in từng thời khắc bom Mỹ dội bom xuống cungđường QL15A sáng 31/10/1968, 11 cô gái và hai chàng trai thanh niên xung phong Tiểu đội 2, Đại đội 317, tại Truông Bồn, xã Mỹ Sơn (huyện Đô Lương, Nghệ An) đã ngã xuống khi đang bám lấy mặt đường tiếp sức cho đoàn xe chi viện chiến trường miền Nam ruột thịt. Họ như rất nhiều người con ở nhiều nhiều nơi trên mảnh đất hình chữ S, họ đã ra đi và bất tử trước ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (30/4/1975).

Hơn 6 giờ sáng ngày 31/10/1968, không quân Mỹ đồng loạt ném bom xuống Truông Bồn. Trong thời khắc đó, chỉ chậm 18 tiếng đồng hồ nữa, theo giờ GMT là 0 giờ ngày 1/11/1968, không lực Mỹ sẽ ký quyết định "ném bom hạn chế" từ vĩ tuyến 190 trở ra Bắc (từ Nghệ An).

Không kịp chạy vào hầm sau loạt bom điên cuồng của đế quốc Mỹ, 13 thanh niên xung phong đã bị bom đạn vùi chôn. Máu của những chàng trai, cô gái mười tám, đôi mươi trắng ngần như hoa ban ấy đã hòa tan vào đất Mẹ giữa đại ngàn đểviết nên thiên anh hùng ca chói lòa.

"Trằn trọc cả đêm kể chuyện từng đứa"


Gần 70 tuổi, nhưng Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (trú tại khối Yên Duệ,phường Đông Vĩnh, TP. Vinh, Nghệ An) vẫn nhớ như in thời khắc bi hùng ấy.
Chị bảo, trước cái hôm Mỹ điên cuồng ném bom xuống tuyến đường, chẳng hiểu sao, mấy chị em không ai ngủ được. Mọi người truyền tay nhau bức thư chưa đọc hết trong căn hầm tối; kể đủ chuyện cho nhau nghe về dự định ngày trở về sum họp, làm đám cưới. Hơn ai hết, chị hiểu rõ ước nguyện hòa bình và mong ước hạnh phúc trên gương mặt đồng đội.
Gần 70 tuổi, bà Trần Thị Thông vẫn nhớ như in thời khắc bi hùng của trận chiến Truông Bồn năm 1968
Chị bảo "đã 3 năm rồi tui chưa thêm một lần quay trở lại Truông Bồn, chỉ được coi qua tivi. Nhớ lắm. Đồng đội ngã xuống có người tìm được xác, có người thì vùi luôn trong đất...".

A trưởng của '"tiểu đội thép" năm xưa gạt dòng nước lệ rơm rớm trên khoé mắt. Hồi ức hơn 43 năm về trước hiện về.

Năm 1965, chị Thông theo tiếng gọi của dân tộc, cùng những người thanh niên xung phong (TNXP) khác, không tiếc máu xương lên đường nhập ngũ. Cuối 1966đến 31/10/1968, tiểu đội của chị được giao nhiệm vụ giữ chốt tuyến đường 15A, "yết hầu" tại Truông Bồn.

A trưởng Thông cùng 11 TNXP tiểu đội 2 liên tục được cấp trên giao nhiệm vụ bám đường, làm cọc tiêu cho những chuyến xe từ Bắc vào Nam trong suốt 3 năm.

Đêm 31/10/1968, như bao đêm khác, tiểu đội 2 đi làm từ đầu hôm đến khoảng hơn 11 giờ khuya mới về nghỉ. Mọi lần về, cất cuốc, vên, xẻng là nằm ngủ khi nào không hay. Nhưng đêm đó lại khác, mọi người không tài nào chợp mắt, ai cũng nóng lòng.

A trưởng Thông nhớ lại: "Như một điềm báo. Bình thường thì đêm nào đi làm về mệt là lăn ra ngủ. Nhưng buổi chiều hôm đó, con Đang (Hà Thị Đang - PV) nhậnđược một lá thư của người yêu chưa kịp đọc. Đi làm đêm về định mở ra coi thì không dám đọc vì sợ thắp đèn lên là mục tiêu của máy bay. Tui nói là chờ đến sáng mai trời sáng rồi đọc cho cả tiểu đội cùng nghe luôn. Chị em ở tiểu đội nhận được thư là đọc chung cho nhau nghe vui lắm. Rồi mấy chị em lại nói chuyện từng đứa, từng đứa trong thời gian 3 năm sống và chiến đấu tại đây".

Thư chưa đọc, người yêu đang mòn mỏi ngóng tin; đêm chưa ngủ nhưng mệnh lệnh quân đội là kỷ luật 'thép', tất cả đều phải thực hiện. Bí mật, an toàn, chắc thắng luôn được đưa lên hàng đầu của 12 cô gái TNXP Truông Bồn nói riêng và cả quân đội chúng ta tại thời điểm đó nói chung.

Buổi sáng định mệnh

Khi tiếng gà rừng le te gáy, con thú hoang đi tìm ăn giữa đại ngàn, các chị lại nhận được lệnh cấp trên tiếp tục rời hầm, ra đường làm cọc tiêu, san lấp,đẩy xe cho đoàn quân đi qua.

Người tiểu đội trưởng lúc bấy giờ còn nhớ mệnh lệnh đặc tiếng Nghệ phát ra của cấp trên: "Lúc đó anh Hạp nói (Trần Văn Hạp - PV): O Thông ơi! Cho tiểu độiđi làm nha".
Nụ cười hòa bình sau những ký ức đau buồn của chiến tranh

Thời khắc định mệnh đã đến. Một cuộc phân trần giữa các đồng đội với người tiểu đội trưởng đã xảy ra. Người đầu tiên là chị Đinh Thị Vinh nói: "Chị Thôngơi! Đêm hôm qua mình làm gần cả đêm rồi, giờ sao lại đi tiếp nữa ạ".

Để trấn an đồng đội, A trưởng Thông nói: "Thôi thì cấp trên đã có lệnh thì ta cứ đi cái đã".

Ăn vội miếng cơm nguội, phong lương khô, tất cả cùng nhau cầm cuốc xẻng chạy ra bám lấy mặt đường. Người yêu của chị Nguyễn Thị Tâm là anh Hoà, tiểu đội trưởng đội 6, chuẩn bị nhận giấy xuất ngũ cũng năn nỉ được đi theo để tiếp viện cho 12 chị em.

5 giờ sáng, 12 cô gái và 2 chàng trai nhận nhiệm vụ rời hầm để bám đường. Tiểu đội được chia ra làm 2 tổ, mỗi tổ 7 người bám lấy 2 bên trục đường.

Tranh thủ trên đường đi, chị Đang bóc vội bức thư của người yêu đọc. Những dòng chữ yêu thương gửi từ phương xa như tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để cô gái Đang vững vàng chiến đấu.

Đúng 6 giờ 10 phút, máy bay không quân Mỹ lướt qua tuyến đường QL15A, Truông Bồn, đồng loạt thả hàng trăm quả bom đen kịt, xới tung cả lòng đường. Dưới mặt đất, quá bất ngờ vì bom Mỹ quật tới tấp, thi thể 12 cô gái và 2 chàng trai bị vùi sâu xuống lòng đất còn rơm rớm máu.

"Quá bất ngờ. Bình thường máy bay nó quay mấy vòng rồi mới ném bom xuống, nhưng hôm nay thì vừa đến chúng đã thả bom luôn. Ngước lên trên đầu thấy toàn bom dài ngoằng, đen sì. Khi đó, thoáng trong suy nghĩ là hôm nay chị em chắc chết. Rồi con Vinh và anh Hoà chạy vào hầm được mấy bước thì đất vùi lấp. Tui thì khoác cây súng trường nằm luôn tại chỗ không chạy được". Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông nhớ lại.

Máy bay Mỹ lao tới bất ngờ trút xuống 2 loạt với 238 quả bom phá. Truông Bồn chìm trong biển khói, mù mịt. Ngớt tiếng bom, cả Đại đội 317, các đơn vị bạn và nhân dân Mỹ Sơn - những người sống, đi tìm người mất, nước mắt chứa chan. Từhiện trường ngổn ngang mảnh bom, đồng đội dồn sức đào bới, tìm kiếm, nhưng duy nhất chỉ còn chị Trần Thị Thông, tiểu đội trưởng may mắn được cứu sống.
Chị bảo "đã 3 năm rồi tui chưa thêm một lần quay trở lại Truông Bồn, chỉ được coi qua tivi. Nhớ lắm. Đồng đội ngã xuống có người tìm được xác, có người thì vùi luôn trong đất...".
Sau đó, chị được mẹ Nguyễn Thị Thởm hiện ở xóm 9, xã Mỹ Sơn cưu mang chăm sóc. Còn lại 11 cô gái, 2 chàng trai đã vĩnh viễn ra đi khi vừa tròn mười tám,đôi mươi. Trong đó, có 7 người không tìm được thi thể. Trước đêm cuối cùng ấy, trong số họ có 8 người được xét cho nghỉ, có người nhận được giấy báo nhập học các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp; có người chuẩn bị về làm đám cưới, nhưng họ đã gác lại tình riêng để cùng đồng đội bám trụ, thông đường.

Và họ đã hy sinh trước thời điểm Mỹ buộc phải ký kết ngừng ném bom miền Bắc.

Trận bom liên tiếp buổi sáng 31/10/1968, đã quật ngã 12 cô gái và 2 chàng trai xuống lòng đất. Máu và nước mắt lăn dài trên trục đường huyết mạch 15A.

Họ đã sống và chiến đấu không tiếc tuổi đời thanh xuân, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Và cũng chính nơi đó, có biết bao nhiêu câu chuyện xúc động của người mẹ nuôi hàng chục đứa con, của anh chàng sắp rời quân ngũ về cưới vợ, của một người lính xa nhà hát dăm câu tặng nhau, để sau này họ nên duyên vợ chồng,…

Tất cả đều khó tin, nhưng có thật ở thời chiến.

· Quốc Huy – Hoàng Sang

Tại sao tên VC Nguyễn Hữu Thái lại xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình??

Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975

Do tình thế khẩn cấp, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên "bất đắc dĩ" trong thời khắc lịch sử - tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong đám đông kéo đến đài phát thanh trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
> Ký ức người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập

Ảnh: Tiến Dũng.
KTS Nguyễn Hữu Thái - nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975. Ảnh: Tiến Dũng.
Sinh ra trong gia đình có 10 người con, lại là cả nên Nguyễn Hữu Thái được bố mẹ đầu tư cho ăn học, với mong muốn con mình sẽ thành tài. Năm 1958, sau khi đỗ tú tài ở trường Thiên Hựu (Huế), cậu học trò Nguyễn Hữu Thái vào Sài Gòn học ngành Kiến trúc và là người trẻ nhất của khóa học này.
Từ khi trở thành sinh viên, Hữu Thái hăng hái kêu gọi bạn bè xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ và năm 1963-1964 được bầu làm Chủ tịch tổng hội sinh viên Sài Gòn. Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, và từ đó đến năm 1974, Thái luôn nằm trong "danh sách đen" của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ba lần ra ngục vào tù đã lấy đi của Thái 4 năm tuổi trẻ, thời gian được chia đều cho nhà tù và nhà trường.
Nhờ những lần ngồi tù, được tranh luận với cán bộ "Việt cộng", chàng sinh viên kiến trúc mới thấm thía thêm rằng, không chỉ có sinh viên, trí thức chống lại chế độ Sài Gòn mà khắp cả nước còn có cuộc đấu tranh của những người cộng sản. Và cũng từ đây, Nguyễn Hữu Thái càng quyết tâm theo cách mạng, dù từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.
* Clip: Thời khắc cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập
"Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho 'Thành phần thứ ba' như trong Hiệp định Paris. Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể.
Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo thuộc "Thành phần thứ ba" thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh...
Dương Văn Minh ủng hộ Nguyễn Hữu Thái
Dương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Thái.
Nhân chứng sống ngoài 70 tuổi này vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử của 36 năm về trước. "Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở ĐH Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh nhờ tác động gấp nhằm chấm dứt ngay cuộc chiến, tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn", ông kể.

Khoảng 9h (thời đó giờ Sài Gòn chậm hơn Hà Nội một tiếng), khi ông Thái quay về trường thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, với nội dung kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng, ở đâu ở đó, để ông gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu. (Nghe tại đây )
Biết tin này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào đài phát thanh. Còn ông Thái cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (giảng dạy báo chí) vào dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
Trong khi đó, ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đầu tiên đang tiến về dinh Độc Lập. Xe tăng 390 chạy đầu tiên, xe tăng 843 chạy đến dinh đã húc thẳng vào cổng phụ bên trái, cổng không sập. Thấy vậy, lái xe tăng 390 liền húc sập cổng chính, và Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, giật lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm dinh.
Xe tăng 390 húc đổ cổng để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975.
Xe tăng 390 húc đổ cổng chính để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.
Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.
"Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện", ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt 117 năm thống trị của thực dân đế quốc.
Có mặt tại dinh Độc Lập, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã nghĩ ngay đến việc phải buộc chính phủ của Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Vì vậy, Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Chính ủy Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch... cùng lên xe tiến về phía đài phát thanh.
Tại đài, trong khi các sinh viên đi tìm nhân viên kỹ thuật cho đài phát sóng thì một cán bộ quân giải phóng cũng soạn vội lời đầu hàng của Dương Văn Minh. Do không có thiết bị thu âm nên nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Tùng. Pin đài yếu nên các sinh viên lại phải chạy đôn đáo đi tìm pin thay thế.
"Việc thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì được nói trực tiếp. Khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, đồng hồ lúc này là 13h20 (Hà Nội là 12h20 phút)", nhân chứng Nguyễn Hữu Thái tiếp tục câu chuyện.
Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975, tác giả thứ 2 (cầm tập giấy) kể từ phải
Tướng Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Nhà báo Đức ngồi cạnh ông Minh, còn ông Thái đứng thứ hai (cầm tập giấy). Ảnh do phóng viên ảnh hãng thông tấn AP thực hiện.
Do tình thế khẩn cấp nên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên "bất đắc dĩ" của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại: "...Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - TP HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay được giải phóng... Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này...".
Tiếp đó, đến lượt Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam".
Sau lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫn, Chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: "Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn".
Trong đám đông kéo đến đài phát thanh vào buổi trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ này run run: "Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được...".
Hân hoan trong niềm vui giải phóng nên dù không mang theo đàn guitar, Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài 'Nối vòng tay lớn'. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4. (Nghe tại đây)
"Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát 'Nối vòng tay lớn' trong giờ phút lịch sử của dân tộc", 36 năm sau ngày lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái vẫn xúc động khi kể lại.
Vào đại học năm 1958 nhưng phải đến năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, ông mới có thể trở lại trường làm đồ án tốt nghiệp và trở thành kiến trúc sư. Sau nhiều năm công tác tại thành đoàn TP HCM, năm 1980 ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố... Năm 1990 ông xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và 5 năm sau lại trở về Việt Nam sinh sống, công tác.
Tiến Dũng

Lời Thú Nhận của tên ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn


Trưa 10.11.1971. Một tiếng nổ long trời tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) khiến ông Nguyễn Văn Bông - Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, người chuẩn bị lên nắm chức thủ tướng chính quyền Sài Gòn chết tại chỗ.TIN BÀI KHÁC

Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của ông Vũ Quang Hùng - người đã theo dõi, lên phương án tấn công và trực tiếp dự trận đánh này.

Vào cuộc

Trung tuần tháng 10 năm 1971, ngay sau khi nhận lệnh của cấp trên về mục tiêu cần diệt là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, việc đầu tiên là tôi điểm lại tất cả anh chị em trong đội do tôi (Vũ Quang Hùng, bí danh Ba Điệp) làm đội trưởng. Đội trinh sát võ trang mang bí số S1 hoạt động nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn thành lập chưa đầy một năm, gồm 11 người (kể cả tôi).

Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam - Phó ban An ninh T4 (tức khu vực Sài Gòn-Gia Định): “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền Sài Gòn chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.

Đúng lúc Châu chuẩn bị nhảy lên ngồi trên yên Honda thì một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cùng với cột lửa khói vụt bốc lên cao từ chiếc Ford Falcon

Ông Nguyễn Văn Bông là thạc sĩ công pháp quốc tế đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp tại Pháp, đang nắm chức Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, đồng thời là Chủ tịch Phong trào Cấp tiến, một tổ chức chính trị chống cộng.

Tôi quyết định tự mình trinh sát mục tiêu, đề ra phương án hành động. Mặt khác, tôi chuẩn bị vũ khí để thực hiện trận đánh.

Sau khoảng nửa tháng bám sát mục tiêu, tôi hầu như nắm chắc quy luật đi lại của G.33: Buổi sáng ra khỏi nhà hơi thất thường, có khi không tới chỗ làm. Nhưng hễ đã vô Học viện Quốc gia Hành chính là thế nào ông ta cũng rời Học viện lúc 11 giờ 45 để trở về nhà. Lộ trình từ Học viện về nhà cũng không bao giờ thay đổi: Theo đường Trần Quốc Toản (nay là 3.2), quẹo phải qua Cao Thắng, đến ngã tư Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) thì rẽ trái.

Tôi cũng nói thêm về việc bảo vệ ông Bông vào thời gian này. Ông di chuyển trên xe hơi Ford Falcon màu đen. Ngồi trên xe hơi luôn có một cận vệ. Chạy theo bảo vệ xe hơi của ông thoạt đầu có hai xe gắn máy, nhưng từ sau khi báo chí đăng tin ông có thể lên nắm chức thủ tướng, số xe gắn máy tăng lên từ ba tới bốn chiếc, mỗi xe đều chở đôi.

Đầu tháng 11.1971. Tôi trình bày vắn tắt ba phương án hành động rồi gửi về căn cứ đặt tại An Phước, Bến Tre. Đã đến lúc tìm người cụ thể bắt tay hành động. Tôi gặp Năm Tiến - đội phó S1, trao đổi tình hình và yêu cầu, hỏi anh ta có dám “vào trận” hay không, tuy vẫn chưa cho biết đối tượng cũng như phương án tấn công nhằm bảo đảm bí mật. Năm Tiến hăng hái nhận lời, nói Tư Xá, một trinh sát trongđội, cũng đang nóng lòng chờ xuất quân.

Cũng cần nói thêm, lúc này tôi đã có 6 trái lựu đạn “da láng”, thêm khẩu Colt 45. Cho nên, trong thư gửi về căn cứ tôi viết nếu chấp nhận phương án ba (ném lựu đạn, mìn DH vào xe của G.33 tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản) và chỉcần gửi cho tôi trái DH khoảng 5kg.

Trên nhất trí duyệt phương án 3 đồng ý cả đề xuất nhân sự, hẹn tôi ngày, giờ cụthể đón giao liên để nhận mìn định hướng.

Tình huống ngoài dự kiến
Tôi cũng tính toán thật chính xác thời gian khoảng từ khi tháo chốt đến khi lựuđạn nổ, thừa đủ thời gian cho trinh sát thoát thân. Vậy là trong óc tôi hình thành cách cấu tạo khối chất nổ: Vì trinh sát hóa trang làm sinh viên nên sẽ hết sức tiện lợi khi mang theo cặp da, trong đó chứa vừa lựu đạn, vừa trái DH. Tôi quyết định luôn “ngày D” để báo cáo về căn cứ: Đó là ngày 9.11.

Vừa nhận trái DH từ căn cứ gửi lên, tôi mua ngay một cặp da và cuộn dây kẽm, mang về gác trọ bắt tay vào việc. Ba lựu đạn da láng cùng trái DH gọn gàng nằm trong cặp. Tuy đã dùng nhiều sợi dây thun cột càng lựu đạn, tôi vẫn chỉ tháo bỏchốt chính, và dự định khi trao cho Năm Tiến, tôi sẽ dặn kỹ anh ta chỉ kéo bỏchốt phụ ngay trước giờ hành động. Riêng trái lựu đạn dùng làm “ngòi”, tôi chỉthay chốt phụ bằng cọng dây kẽm, chốt chính vẫn giữ lại, và việc này cũng phải chờ đến phút chót.

Đến ngày 8 tôi mới nói với Năm Tiến đối tượng cần tấn công cũng như toàn bộ kếhoạch. Cặp da chứa chất nổ và khẩu Colt 45, tôi sẽ trao cho Năm Tiến vào 9 giờsáng ngày hôm sau, vừa đủ thời gian để anh và Tư Xá kiểm tra kết cấu chất nổ và cách sử dụng. Tôi hẹn gặp Năm Tiến tại một quán cà phê, rồi mới đưa anh ta tớiđịa điểm cất giấu vũ khí. Tiếp theo Năm Tiến sẽ gặp Tư Xá trao đổi lại toàn bộsự việc và liền đó hai người bắt tay làm nhiệm vụ… Nhưng thật bất ngờ, vào phút chót Năm Tiến báo tin Tư Xá xin rút, và cả anh ta cũng rút luôn vì không mấy tin tưởng thành công của trận đánh.

Lúc này lòng tôi rối bời. Các đồng chí trong căn cứ sẽ nghĩ sao? Kế hoạch đã lên nay không thực hiện, không lẽ chỉ là một ý nghĩ viển vông, lý thuyết suông? Nếu không nhanh chóng thực hiện phương án, qua ít ngày nữa, ông Bông lên nắm chức thủ tướng, khi ấy nếu muốn diệt mục tiêu chắc chắn phải trở lại từ đầu, kể cảkhâu trinh sát.

Lúc này tôi không có ai để bàn bạc, tham khảo ý kiến, mà phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Cuối cùng tôi quyết định tiếp tục hành động. Vấn đề là tìm người thực hiện cụ thể.

Trong đội trinh sát S1 thực tế tôi chỉ còn lại Châu. Nguyên là sĩ quan quân đội,đương nhiên Châu quen với lựu đạn, súng. Và đây là điều hết sức thuận lợi nếu anh ta làm trinh sát số hai – người quăng chất nổ.

Còn trinh sát số một – người chạy xe gắn máy chở trinh sát ném lựu đạn? Phải thành thực nhận định, không ai thuận lợi bằng tôi: Biết rành cũng như nắm vững quy luật đi lại của đối tượng; và hơn hết, đã quen với con hẻm dẫn ra khỏi hiện trường. Vả lại, tôi cũng không thể tìm đâu ra người trong thời gian cấp bách.

Tôi lập tức tìm gặp Châu. Rút kinh nghiệm Năm Tiến, tôi chưa vội trao đổi cụ thểvới Châu, mà chỉ hỏi anh dám tham gia một trận đánh tại nội thành có thể nguy hiểm đến tính mạng hay không? Tôi nhớ Châu chỉ hỏi lại ngoài anh ta ra còn ai cùng dự trận, và khi tôi trả lời còn một người nữa là tôi, anh đồng ý ngay. Tôi hẹn sáng ngày mai, lúc 10 giờ trưa, sẽ gặp lại anh giao nhiệm vụ và vũ khí cùng lúc, để thực hiện luôn vào buổi trưa cùng ngày…

Đúng 10 giờ sáng hôm sau, ngày 10.11.1971, tôi chở Châu đến nơi cất giấu vũ khí. Tại đây, tôi kể lại toàn bộ tình hình cho Châu nghe, từ chỉ thị của cấp trên, việc trinh sát đối tượng, phương án đánh, đến vũ khí sử dụng. Chỉ đến khi Châu hỏi “vậy vũ khí đâu?”, tôi mới lôi cặp da ra.

Tôi mở cặp da, để Châu tận mắt thấy trái mìn DH và 3 lựu đạn da láng, trong đó 2đã được rút chốt chính và cột bằng dây thun, trái thứ 3 còn nguyên chốt chính trong khi chốt phụ đã được thay bằng cọng dây kẽm và đầu kia của dây kẽm xuyên qua cặp da, cột vào quai xách.

Còn khẩu Colt 45, tôi giắt vào bụng mình để Châu không bị trở ngại khi hành động và khi chạy, dặn vạn bất đắc dĩ Châu mới thọc tay vào bụng tôi, rút ra sử dụng.

11 giờ 15, tôi chở Châu lên đường. 11 giờ 25, tôi tấp xe vào quán nước đối diện Học viện. Còn Châu xách cặp làm bộ đứng chờ xe buýt tại trạm gần quán.

11 giờ 40, tôi trả tiền. Đúng 11 giờ 45, phía trong Học viện có bóng người chuyển động về hướng xe hơi. Dù cố trấn tĩnh, tim tôi vẫn đập rộn ràng. Tôi lập tức rời quán, lên Honda, nổ máy, chạy chầm chậm. Châu đã thấy tôi, bước đến sát mé đường. Ba-ri-e ngoài cổng Học viện hạ xuống, chiếc Ford Falcon lao ra rất nhanh, đến nỗi tôi vừa dừng xe đón Châu thì xe hơi đã quẹo ra đường Trần Quốc Toản; và khi Châu lên ngồi trên yên sau Honda thì xe hơi đã vượt qua xe tôi, 3 xe gắn máy chở đôi bám theo.

Không hiểu sao lúc này tôi lại tự nhiên hết hồi hộp mà thanh thản một cách kỳ lạ.Tôi tự nhủ không nên chạy sau xe Ford Falcon, vì có thể sẽ bị đám cận vệ phát hiện, nên tăng ga. Chiếc Honda 67 lướt rất êm, vừa tới ngã ba Cao Thắng đã qua mặt xe hơi.

Honda vẫn chạy trước xe hơi khoảng 5-6m, và cách ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản chừng 15m thì đèn tín hiệu giao thông chuyển sang màu đỏ. Tôi dừng Honda đểChâu bước xuống, còn tôi vòng Honda qua bên kia đường, đầu xe nhắm ngay con hẻm, gài số một. Phía trước mặt tôi, hơi chếch về bên mặt, là tấm kiếng lớn của một xe hủ tíu-mì. Tôi quan sát phía sau qua tấm kiếng lớn này.

Châu vừa xuống xe thì chiếc Ford Falcon cũng vừa ngừng. Châu tấp vô lề, vòng ra phía sau xe hơi, quăng cặp da xuống ngay gầm xe bên phải, rồi nhanh như chớp, chạy băng qua đường. Đúng lúc Châu chuẩn bị nhảy lên ngồi trên yên Honda thì một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cùng với cột lửa khói vụt bốc lên cao từchiếc Ford Falcon. Một làn hơi mạnh thổi tạt đến tận chỗ tôi vừa lúc Châu tót lên yên và tôi lập tức siết tay ga, nhả tay côn hết sức nhịp nhàng. Chiếc Honda như muốn cất cao đầu, lao nhanh vào con hẻm…

Khoảng nửa giờ sau ngồi trong gác trọ, nghe Đài Phát thanh Sài Gòn thông báo ông Bông đã bị ám sát, chết tại chỗ, tôi mới trấn tĩnh trở lại…

Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty