TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Tuesday, September 1, 2009

Đại gia VietNam phất lên như thế na`o ???

Đại gia Hà Nội “đốt” 400 triệu đồng 1 đêm cúng... Hà Bá

Để tiến hành lễ cúng Vu Lan ra trò, các đại gia khai thác cát, vận chuyển vật liệu xây dựng ở dọc sông Hồng, đã chuẩn bị các thủ tục từ trước đó khoảng 2-3 tháng. Khâu chuẩn bị trước cả tháng trời thường là thuê đội quân làm hàng mã.



Doi cát giữa sông Hồng.

Cạnh bến cát bên sông Hồng ở khu vực quận Long Biên (Hà Nội), với những đống cát to như quả núi, có một dãy nhà tạm rộng mênh mông. Trong những căn nhà tạm, tràn ngập ngoài bãi là những con ngựa cùng hình nhân bằng giấy, khung bằng tre, gỗ. Bãi cát này là của đại gia N.T., thầu bãi từ gần chục năm nay.

Đại gia T. bảo, tuổi trẻ từng xuôi ngược Nam - Bắc, làm đủ thứ nghề mạt hạng nhưng một ngày giời cho ăn lộc, thầu được bãi cát này, nên phất lên giàu có.

Theo đại gia T., “lộc giời” là cát ở dưới sông. Chỉ mấy năm múc cát đem bán, anh đã xây biệt thự hoành tráng, sắm ôtô xịn. Nhưng ăn lộc trời thì cũng phải “ra lộc” cho thiên hạ. Thay vì đem lộc phân phát cho dương thế, thì những người làm nghề gắn với sông nước thường “đốt tiền” dâng cho Hà Bá và những oan hồn xấu số trên sông Hồng.

Đại gia T. thuê một người thợ làm hàng mã nổi tiếng. Người này cùng 5 thợ phải làm việc suốt 2 tháng trời mới xong 1.000 người - ngựa giấy.

Để buổi cúng Vu Lan diễn ra hoành tráng, đại gia T. đánh xe chở một đội quân làm ngựa giấy, người giấy từ làng Đông Hồ về bãi cát nhà mình, rồi đêm ngủ ngày thức đóng khung, bọc giấy vẽ hình người - ngựa cho thật đẹp.

Sau 2 tháng trời làm việc liên tục, một “nghệ nhân” cùng 5 người thợ đã cho ra lò tổng số 1.000 người - ngựa. Chuẩn bị cho lễ nhập đồng, cúng Vu Lan, 1.000 người - ngựa được đem ra hong nắng khiến bãi cát thành màu vàng rực.

Trong số 1.000 người - ngựa, có 250 người - ngựa cỡ nhỏ, 250 cỡ vừa, 250 cỡ lớn và 250 người - ngựa lớn như thật. Đại gia này phải dựng nguyên một căn lều lớn, rộng hàng trăm mét vuông để chứa những người - ngựa lớn như thật.

Theo những người thợ, đêm cúng Vu Lan, đại gia T. mới cho mấy xe tải chở thuyền rồng, đĩnh vàng, ngai bạc, voi chiến… trong đó, có một xe tải, chở khoảng… chục tỷ đô-la, toàn là hàng mã đến.

Trước lễ cúng vài ngày, đại gia T. đã cho người dựng một sân khấu hoành tráng. Trên sân khấu này, vào ngày lễ sẽ diễn ra một buổi hầu đồng, cúng bái, cầu khấn, gồm rất nhiều tiết mục, thể loại. Sau hàng loạt tiết mục lễ bái, sẽ là cuộc đốt 1.000 người - ngựa.


Những dãy người - ngựa vàng rực cả bãi sông Hồng.

Buổi hầu đồng, cúng bái, cầu khấn diễn ra từ 8 giờ tối. Tôi vác máy ảnh ra bãi cát để chụp cảnh lên đồng, cầu khấn, song vừa đến đầu bãi cát, cả đàn chó, con nào con nấy lực lưỡng như bê xổ ra trấn giữ. Đại gia T. không cho ai vào tham dự buổi hầu đồng, ngoài anh và những người thân trong gia đình.

Đúng 12 giờ đêm, ngọn lửa xuất hiện ở ven sông Hồng, chỗ bãi cát của đại gia T. Đứng trên đê vẫn nhìn rõ ngọn lửa cháy đùng đùng vượt qua cả những ruộng ổi, rặng tre, vườn chuối. 1.000 ngựa - người, cả núi hàng mã, cùng hàng chục tỷ đô-la hàng mã đã bị ngọn lửa thiêu rụi.

Dù đứng từ rất xa cũng không thu hết được số lượng ngựa giấy vào ống kính.

Dọc hai bên sông Hồng trong dịp Vu Lan lửa cháy rừng rực. Các đại gia làm giàu nhờ sông Hồng đang trả lễ bằng cách đốt đủ các thứ như máy bay, tàu hỏa, tên lửa, ngựa, voi, đô-la, nhà máy, thuyền rồng, bảo tháp, ngai chúa, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt…

Qua tham khảo giá trị trường, một con ngựa giấy nhỏ có giá 50 ngàn đồng, một hình nhân nhỏ cũng có giá đó, còn ngựa và người lớn như thật có giá 1 triệu đồng/cặp. Tuy nhiên, nghệ nhân được thuê làm ngựa - người cho đại gia T. bảo rằng, do ông T. làm nhiều, đặt làm hàng từ trước, tận gốc, nên giá ngựa nhỏ chỉ 20 ngàn và người nhỏ cũng 20 ngàn, còn một cặp người - ngựa lớn là 500 ngàn đồng.

Như vậy, chỉ riêng số tiền đầu tư cho 1.000 ngựa - người bằng giấy đã tốn đến 200 triệu đồng. Các loại hàng mã khác tiêu tốn khoảng 100 triệu đồng. Công đoạn dựng sân khấu, thuê giá đồng, thầy cúng, lễ lạt các loại cũng tốn chừng 100 triệu đồng nữa.

Chỉ một đêm đại gia T. đã phóng hỏa “đốt” chừng 400 triệu đồng. Rồi còn hàng chục đại gia khác chuyên chở vật liệu trên sông Hồng, khai thác cát dưới sông, cũng thi nhau đốt vàng mã. Hàng tỷ đồng đã biến thành tro chỉ trong một đêm.

Theo Dương Thụy Bình
VTCNews

Phóng viên bị bắt 'không phải vì viết báo'

Phạm Đoan Trang

Đoan Trang là phóng viên chuyên trang Tuần Việt Nam

Tổng biên tập báo điện tử VietnamNet nói với BBC rằng việc phóng viên Đoan Trang bị bắt tuần trước không có liên quan tới công việc của cô tại tờ báo này.

Ông Nguyễn Anh Tuấn nói: "Việc cơ quan an ninh bắt Đoan Trang không liên quan đến những bài viết của Đoan Trang trên VietnamNet."

Phạm Đoan Trang, 31 tuổi, phóng viên chuyên trang Tuần Việt Nam của VietnamNet, bị bắt thứ Sáu tuần trước.

Được tin có cáo buộc phóng viên này đang bị điều tra vì 'vi phạm an ninh quốc gia'.

Các hãng thông tấn có trụ sở ở trong nước cũng trích lời ông Tuấn nói tòa soạn không biết hiện giờ Đoan Trang đang ở đâu và không liên lạc được với cô.

Đoan Trang là tác giả một số bài báo nói về chủ đề tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông, đăng trên Tuần Việt Nam.

Mới đây cô cũng có bài trích thuật một số sử gia nước ngoài nhìn lại đàm phán hội nghị Geneva 1954, nêu một số quan điểm không chính thống.

Tuy nhiên, theo Tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn, "các bài viết của Đoan Trang trên VietnamNet là bình thường".

Các bài viết của Đoan Trang trên VietnamNet là bình thường.

TBT Nguyễn Anh Tuấn

Ngay trước vụ này, ông Bùi Thanh Hiếu, tức blogger Người Buôn Gió, cũng bị bắt tại Hà Nội để điều tra.

Trên blog của mình, ông Hiếu đăng tải nhiều bài chỉ trích chính sách của nhà nước như về vấn đề biển đảo, bauxite và đất đai tôn giáo.

Blog Người Buôn Gió cũng nêu quan điểm ủng hộ một số nhà hoạt động dân chủ. Ông còn được tin là đã tham gia in ấn áo phông với nội dung phản kháng.

Chưa biết hai vụ bắt giữ này có liên quan tới nhau không, nhưng đang có suy diễn trong giới quan sát về một 'làn sóng trấn áp' những người bị cho là gây đe dọa cho an ninh quốc gia.

Đầu tháng này, cơ quan an ninh điều tra được biết sẽ chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát để khởi tố "vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia" và sớm xét xử các nghi phạm.

Báo chí nhà nước đưa tin trong vụ này, "các lực lượng chức năng đã bắt, triệu tập và mời làm việc 27 đối tượng, bắt tạm giam 5 đối tượng".

Chậm đóng mới tàu chở dầu thô và kho nổi chứa dầu FSO-5:PetroVietnam thiệt hại hàng triệu USD


Lao Động số 196 Ngày 01/09/2009 Cập nhật: 8:20 AM, 01/09/2009
Kho nổi chứa xuất dầu FSO-5 liên tục bị điều chỉnh tiến độ bàn giao.
(LĐ) - Hai dự án quan trọng của Tập đoàn Dầu khí VN (PetroVietnam - PVN) gồm đóng mới kho nổi chứa xuất dầu FSO-5 nhằm tăng cường năng lực dịch vụ và dự án tàu chở dầu thô Dung Quất trên 100.000 tấn, nhằm đón đầu sự ra đời của nhà máy lọc dầu đã không thể hoàn thành đúng tiến độ.
Dù nhiều lần gia hạn hợp đồng cho Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ VN, song tiến độ thực hiện vẫn giậm chân tại chỗ.Tháng 12.2006, TCty CP Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) - đơn vị thành viên PVN, đã ký với Vinashin hợp đồng đóng mới kho nổi chứa xuất dầu FSO-5. Đơn vị trực tiếp thực hiện hợp đồng là TCty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu (Nasico). Theo hợp đồng, thời hạn bàn giao kho nổi cho PTSC là ngày 1.5.2008. Nhưng phía Vinashin đã 2 lần điều chỉnh tiến độ bàn giao. Đến nay, PVN xác nhận là dự án đã bị chậm tới 15 tháng so với tiến độ cam kết. Giá trị hợp đồng cũng được 2 phía thống nhất điều chỉnh tăng, từ 109,9 triệu USD (số tròn) lên 169,2 triệu USD - tăng gần 60 triệu USD so với giá trị ban đầu. Thế nhưng, dự án cũng không vì thế mà có biến chuyển.Với dự án đóng mới 3 tàu chở dầu thô Aframax, có trọng tải mỗi tàu 105.000DWT mà TCty Vận tải dầu khí (PV Trans) ký với TCty CN tàu thuỷ Dung Quất (VNS Dung Quất), theo hợp đồng tiến độ giao tàu thứ nhất là tháng 2.2009, tàu thứ hai tháng 8.2009 và tàu thứ ba tháng 2.2010. Nhưng đến nay, tiến độ giao tàu thứ nhất đã được VNS Dung Quất khất lần đến... 13 lần, nhưng vẫn không hứa hẹn là sẽ có tàu. Lần cuối cùng, VNS Dung Quất điều chỉnh tiến độ đến tháng 10.2010 mới bàn giao tàu dầu đầu tiên. Tuy nhiên, theo đánh giá của chuyên gia tư vấn PV Trans, căn cứ thực tế thi công tại Nhà máy đóng tàu Dung Quất thì tiến độ công việc mới thực hiện được 10%. "Sớm nhất phải đến quý II/2011, VNS Dung Quất mới có thể bàn giao tàu cho PV Trans" - báo cáo của tư vấn đánh giá.Không thể kiên nhẫn được nữa, phía PVN đã phải làm văn bản trình Thủ tướng Chính phủ. Trong đó cho rằng, việc chậm trễ này khiến PTSC không thể chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh các năm 2008 và 2009. Do mất nguồn doanh thu từ việc khai thác kho nổi FSO-5, PTSC mất doanh thu lên tới 50,4 triệu USD, trả lãi vay ngân hàng 120 tỉ đồng, phát sinh tăng giá hợp đồng gần 60 triệu USD... Còn VSP để đảm bảo sản lượng và an toàn khai thác dầu, trong khi thiếu tàu chứa, buộc phải sửa chữa 2 tàu đã đến hồi thanh lý với tổng chi phí lên tới 64 triệu USD trong năm nay và dự kiến cả năm 2010 do FSO-5 chưa vào vận hành. Với tàu chở dầu thô Dung Quất (tàu Aframax 1) đến quý II/2011 mới đi vào vận hành, tác hại lớn nhất là ảnh hưởng đến sản lượng của NMLD Dung Quất khi nhà máy vận hành đủ công suất từ tháng 10.2009. Theo PV Trans tính toán, thiệt hại do bị mất doanh thu từ tàu Aframax 1 có thể lên tới 33 triệu USD và 78 tỉ đồng là chi phí phát sinh do chậm tiến độ... 20 tháng.Ngày 30.7.2009, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có cuộc họp với các bên liên quan kiểm điểm về tình hình triển khai 2 dự án quan trọng nêu trên. Phó Thủ tướng yêu cầu Vinashin tập trung nguồn nhân lực, phương tiện, tài chính, bảo đảm chất lượng, hoàn thành, bàn giao kho nổi FSO-5 tại mỏ chậm nhất vào cuối tháng 3.2010. Đối với dự án Aframax, Phó Thủ tướng yêu cầu Vinashin tập trung nguồn lực đóng mới tàu số 1, trên cơ sở chất lượng và tiến độ mới được xem xét, quyết định giao tiếp tàu thứ hai.
Quỳnh Trang

Hậu lụt lịch sử Hà Nội 2008:Chuyện về những người lấy nước mưa nấu thành…cháo

Cập nhật lúc 07:00, Thứ Hai, 31/08/2009 (GMT+7)
– Câu chuyện tréo ngoe này xẩy ra ngay tại Hà Nội, sau khi cơn lũ lịch sử năm 2008 xẩy ra: Tiền cứu trợ lũ lụt dành cho các hộ nghèo lại được cán bộ thôn, xóm chia hết cho các nhà giàu. Người dân ở đây thở dài ngao ngán: thôi thì, lá rách đùm là lành vậy.

Nghịch lý ở Mỹ Hưng

Nắng như muốn thiêu trụi cả những con đường mịt mù bụi dẫn vào đội 1, thôn Quảng Minh, xã Mỹ Hưng (Thanh Oai, Hà Nội). Dọc con đường “sương khói” chi chit những ổ gà, thi thoảng bắt gặp những đứa trẻ đen nhẻm, cởi trần trùng trục phơi nắng, những người phụ nữ với bước đi xiêu vẹo, oằn mình chở những thùng thức ăn về nuôi lợn.

Đã gần 1 năm sau cơn đại hồng thủy, người dân nơi đây vẫn không thể quên được cái cảm giác kinh hãi lúc ấy.

Nhà của chị Lê Thị Chính tại đội 1 thôn Quảng Minh (xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Ảnh: Hoàng Sang.…

Mưa trắng trời. Ngôi làng nhỏ bé bỗng chốc biến thành ốc đảo, tứ bề là dòng nước đục ngầu. Nước cứ lên nhanh không ngừng. Tinh mơ, đã thấy nước réo ùng ục ngoài ngõ. Vừa nấu cơm xong, đã thấy lên đến thềm nhà. Chạy đi kiếm thêm ít rau và mua ít mì tôm dự trữ, trở về nhà đã thấy đồ đạc lềnh bềnh trôi theo dòng nước đục ngầu.

Câu chuyện về cơn lũ lịch sử năm 2008 mãi mãi hằn sâu trong tâm trí của người dân nơi đây từ những chú bé tóc để chỏm cho đến các cụ già móm mém cho đến tận bây giờ.

Trong câu chuyện vào một buổi chiều nắng gắt, có cả những giọt nước mắt cảm động về tình người trong cơn lũ dữ, có cả những thảng thốt, băn khoăn và day dứt khi tình người bị đánh cắp.

Câu chuyện về những người dân khốn cùng mỏi mòn chờ tiền cứu trợ sau khi cơn lũ xảy ra mà chúng tôi được nghe vào một buổi chiều tháng 8/2009 nghe sao mà xót xa.

Chuyện là ở cái xóm nhỏ thuộc thôn Quảng Minh, xã Mỹ Hưng, người dân đang làm đơn tố cáo cán bộ thôn, xã hè nhau ăn chặn tiền cứu trợ của người nghèo, phân phát tiền cứu trợ không đúng đối tượng. Cực chẳng đã, họ cử đại diện đạp xe hàng chục cây số đi kiện.

Hàng ngày, những người phụ nữ ở Đội 1, thôn Quảng Minh, xã Mỹ Hưng (Thanh Oai, Hà Nội) vẫn kể cho nhau nghe về những câu chuyện, những nghịch lý trong quá trình phát tiền cứu trợ. Họ ngao ngán trước cảnh: lá rách phải đùm bọc lá lành. Ảnh: Hoàng Sang.

Chuyện ở thôn nhỏ ngoại thành Hà Nội còn là một nghịch lý cười ra nước mắt: lá rách đùm bọc lá lành. Thoạt đầu mới nghe, ai cũng cho là: người dân tự bịa ra cho … vui cửa, vui nhà. Thế nhưng, có tận mắt chứng kiến mới thấy đó là sự thật – một sự thật trần trụi.

Sự thật ở đây chính là: Trong những lúc khó khăn, nhiều hộ gia đình mỏi mòn chờ tiền và gạo cứu trợ của nhà nước thì chỉ được cán bộ thôn đưa đến tặng cho cái thùng nhựa và ít nồi, niêu, xoong chảo. Trong khi đó, những hộ gia đình khá giả hơn lại được xã phát tiền, gạo để…cứu đói.

Sự thật ở đây còn là: người dân không được nhận gạo cứu trợ nhưng lại có cả chữ ký nhận trên UBND xã.

Hàng ngày, những người dân nơi đây vẫn đang cố gắng đi tìm ra sự thật mà họ hiển nhiên đã biết: vì sao lại có sự nghịch lý như vậy?

Không gạo, lấy nước mưa nấu thành cháo à?

Người đàn bà đầu tiên mà chúng tôi gặp có tên Lê Thị Chính. Trong căn nhà chưa đầy 12 m2, chị Chính đang lúi húi ngồi nấu cám lợn. Chồng chị, anh Đỗ Đức Mạnh đang cà nhắc, lê những bước chân nặng nhọc giúp vợ tắm rửa cho đàn lợn. Hai đứa con chịu không nổi hơi nắng từ trần nhà hắt xuống nên vác ghế ra ngoài ngõ ngồi chờ đến bữa cơm.

Trong câu chuyện chắp vá rời rạc của chị dưới cái nắng hầm hập, chúng tôi nghe đuợc cả những nỗi cơ cực mà chị phải gánh chịu từ ngày chồng đổ bệnh.

Từ ngày anh Mạnh đổ bệnh, bao nhiêu của cải trong nhà chị Chính đều bán hết. Lũ đến, nhà chẳng còn gì để ăn, phải chạy sang nhà ông nội ở nhờ. Vậy nhưng, gia đình chị lại không được nhận được tiền hỗ trợ theo QĐ của UBND Thành phố Hà Nội vì những cái "lý" của cán bộ xã Mỹ Hưng. Ảnh:Hoàng Sang.
Năm 2007, anh Mạnh bỗng nhiên đổ bệnh, bao nhiêu tiền của trong nhà gom góp đuợc, chị đều dùng hết đưa anh đi chữa bệnh.

Chị bảo rằng: “Thôi thì còn người còn của, cứ vay mượn chạy vạy cho anh khỏe bệnh cái đã”.

Trong lúc chồng đang nằm bẹp đầu giường thì cơn lũ lịch sử ập đến. Lúc đầu, chị nấn ná ở lại vì nghĩ rằng: "Chắc là trời mưa một lúc rồi ngớt. Ai dè, nước như từ dưới đất chui lên, vừa thấy nó mấp mé ngoài ngõ, quay ra quay vào đã thấy vào đến sân, rồi đến mép nhà".

Lúc ấy, chị mới tá hỏa đi đuổi lợn, tài sản đáng giá nhất của gia đình bơi lóp ngóp vào nhà.


Nước lên đến gần nửa nhà, phía ngõ bị trũng, nước đã lên đến quá cổ. Chị vội đi tìm cái búa đinh, đập bỏ một lỗ nhỏ để đưa cả nhà ra đường lớn. Cả nhà kéo lên ông bà nội sống tạm qua ngày.

Anh Mạnh đã bật khóc khi kể lại những tháng ngày cơ cực sau khi lũ xẩy ra. Ảnh: T.Hương.
Gần 1 tháng ròng rã ngồi nhìn nước lụt, số gạo dự trữ ít ỏi đã hết. Một buổi sáng, đang định lội nước đi vay ít gạo của hàng xóm thì cán bộ thôn thông báo chị được nhận một phần quà của Hội chữ thập đỏ. Cán bộ xã còn bảo với chị: vì là gia đình khó khăn nên xã mới ưu tiên để nhận quà đợt đầu.

Số quà mà chị nhận đuợc bao gồm: 1 cái thùng nhựa đựng nước, một ít nồi niêu, xoong chảo, chăn màn.

Một thời gian sau, khi thấy nhiều hộ gia đình được cán bộ thôn thông báo đi nhận tiền và gạo cứu trợ, chị cũng lên xã để hỏi. Nhưng cán bộ xã trả lời: "Nhà chị được nhận quà đợt 1 rồi thì thôi. Đợt này không có tên gia đình chi đâu"(?).

Chị lủi thủi trở về, quần áo uớt sũng. Đêm đó, chồng chị lại lên cơn đau. Các con của chị không ngủ được, bụng réo ùng ục.

Chị thở dài: “Họ cho chúng tôi thùng nhựa, nồi niêu xong chảo nhưng lại không cho chúng tôi tý gạo nào thì chúng tôi sống sao được. Chẳng lẽ lấy nước mưa để nấu thành cháo à?”.

Những ngày sau, chị lại lọ mọ lên hỏi cán bộ xã nhưng đều được nhận được câu trả lời cụt lủn: "Không có tên trong danh sách, chờ đợt sau đi. Đã nhận được quà đợt trước rồi thì đợt này không được tiếp tục nhận nữa".

Chị Chính không phải là người duy nhất được xã tặng nồi để lấy.. nước mưa nấu thành cháo trong những tháng ngày cơn lũ ập đến. Chỉ tính riêng cái thôn 1, xã Mỹ Hưng ấy, phải có đến hàng chục trường hợp như vậy.

Mỗi nhà một hoàn cảnh, họ chỉ giống nhau duy nhất một điểm: đều là những hộ gia đình nghèo nhất ở cái vùng đất trũng này; đều chỉ được nhận mấy cái nồi niêu, xoong chảo để …ngắm trong những ngày mưa lũ.

Những hộ nghèo nhất thôn Quảng Minh không nhận được bất kỳ 1 kg gạo nào từ xã mà chỉ nhận được những mặt hàng cứu trợ này từ Hội chữ thập đỏ. Ảnh: Thu Hương.Gia đình chị Nguyễn Thị Linh cũng vậy, lũ ập đến quá nhanh khiến gia đình chị không kịp trở tay, bao nhiêu thóc lúa đều bị uớt nhẹp, lên mộng xanh.

Rồi một ngày, ông trưởng thôn Tạ Văn Duy gọi chị đến để nhận quà cứu trợ với lời nhắn: “Xã ưu tiên cho các hộ nghèo đó. Quà gồm một cái thùng nhựa đựng nước, một cái xoong và ấm đun nước, 1 cái chăn, màn…”

Mấy ngày sau, thấy chị hàng xóm hớn hở khoe vừa được nhận tiền cứu trợ, 600 ngàn/5 khẩu, chị cũng lục tục chạy lên xã để hỏi. Câu trả lời mà chị nhận được ở cán bộ xã là: “Nhà chị khó khăn, nhưng đã được nhận quà trong đợt 1 rồi. Đợt này dành cho người khác”.

Rồi chị trở về. Thất vọng.

Đêm hôm đó, 2 con chị lại lên cơn sốt. Cả đêm chị không ngủ được với ý nghĩ miên man: nếu trời cứ mưa thế này, chắc là cả nhà ôm nhau chết đói mất thôi. Sáng, chị lội nước ra khỏi làng để xin thuốc cho con.

Sau khi nghe chị trình bày, cán bộ ở đây nói rằng: "Về đưa 2 đứa nhỏ lên đây thì mới được cấp phát thuốc". Chị tự nhủ: "Trời đất, mưa gió thế này mà đưa con lên để họ khám bệnh thì chắc là bệnh chỉ thêm nặng mà thôi".

Nài nỉ mãi không được, chị lại lội ngược trở về.

Nghịch lý "lá rách đùm là lành" ở Mỹ Hưng đến giờ vẫn là một vết hằn đối với người dân nơi đây. Gia đình chị Linh (ảnh trái) thuộc vào diện nghèo khó trong xã lại không nhận được tiền cứu trợ từ xã ngoài mấy cái thùng nhựa. Trong khi đó, gia đình kế bên chị (ảnh phải) lại nhận được 600 ngàn/5 khẩu. Ảnh: Hoàng Sang.
2 đứa con chị vẫn nằm thiêp thiếp ngủ, đầu nóng ran. Chị tặc lưỡi: “Cứ để con thế này coi chừng nguy mất, thôi cứ đưa nó đi xin thuốc”.

Rồi chị và chồng cõng 2 đứa nhỏ trên cổ, lội qua dòng nước đục ngầu, lềnh nhềnh rác thải để đến xin thuốc.

Chị nhớ lại: “Nếu hôm đó có tiền sẵn trong nhà, tôi đã lên thẳng hiệu thuốc ở huyện để mua thuốc cho con. Ai đời con tôi đang ốm mà lại bắt chúng tôi đội mưa đưa con đến thì cán bộ mới cấp phát thuốc”.

Câu chuyện buồn về những ngày tháng vật lộn chống chọi với dòng nước lũ để sinh tồn, chuyện về những hộ dân được xếp vào hạng “bần cùng” của xã được cấp nồi, niêu để … lấy nước mưa nấu thành cháo giờ đây vẫn là một vết hằn suốt cuộc đời những người dân cách thủ đô Hà Nội không xa.

Hoàng Sang – Thu Hương

Dân “bao vây” doanh nghiệp để đòi nợ

(Dân trí) - Mấy ngày nay, gần trăm người dân mang biểu ngữ, loa phóng thanh tập trung trước cổng trụ sở doanh nghiệp tư nhân Thanh Hải (xã Tân Thành, huyện Lai Vung) để đòi doanh nghiệp này phải trả tiền mua cá.
Trung tá Lê Xuân Lãn - Trưởng Công an huyện Lai Vung cho biết, lực lượng công an huyện đang có mặt tại hiện trường và tình hình an ninh vẫn trong tầm kiểm soát.
Theo ông Lãn, người dân tập trung để gây áp lực, đòi doanh nghiệp thanh toán tiền mua cá vì thế Công an không giải tán đám đông vì họ chưa có biểu hiện gây rối an ninh trật tự.
Theo trình bày của một số người dân, năm 2008 ông Tăng Ngọc Toàn - Giám đốc Công ty TNHH Toàn Phát mua cá tra của gần 30 hộ nông dân ở Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang và còn nợ 8 tỉ đồng nhưng đến nay vẫn không trả. Sau đó, ông Toàn bán công ty của mình cho DNTN Thanh Hải.
Ngày 12/8, ông Lê Thanh Hải, chủ DNTN Thanh Hải đứng ra làm giấy cam kết sẽ sử dụng 3 tỉ đồng chưa thanh toán cho ông Toàn để trả 50% tiền mua cá cho từng hộ vào ngày 26/8, số tiền 50% còn lại cũng được ông trả dần sau đó. Thế nhưng đến hẹn ông Hải lại phớt lờ.
Theo người dân, đây là hành vi lừa gạt nên đã kéo đến DNTN Thanh Hải đòi thực hiện đúng như cam kết. Họ cho biết sẽ tiếp tục tụ tập trước trụ sở đơn vị này cho đến khi nào đòi được tiền mới thôi.
Việt Xuân

Quyết định 97 - Phản Biện, Phản Động, hay Phản Tiến Hóa?

Lê Vĩnh

“Tôi khinh miệt những cái mồm oang oang rao giảng và ’khích lệ’ sự phản biện, nhưng lại lăm lăm trong tay miếng băng keo và cái… còng số 8”, câu nói ngắn gọn đó của nhà báo Võ Đắc Danh lại gieo nhiều đồng cảm và để lại dư âm dài trong những tấm lòng cương trực trên đất Việt hôm nay. Đặc biệt vào lúc mà giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam thấy rằng, sau hàng chục năm dài “đảng là chân lý”, tiếp đến nghị định 31/CP và nay là thời của luật hình sự 88, không biết bao nhiêu hình thức “băng keo và còng số 8” đã được đảng dùng đến, nhưng xem ra vẫn chưa đủ. Bây giờ, qua quyết định 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng, đảng phải chuẩn bị thêm nhiều băng keo và còng số 8 thích hợp khác để dùng sau ngày 15 tháng 9 này, hầu đáp ứng được nhu cầu bức thiết của đảng trong thời gian sắp tới.

Thực ra quyết định 97 chỉ liên quan đến việc tư nhân tham gia nghiên cứu khoa học công nghệ. Nhưng quyết định này lại ghi rõ rằng: “Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cần phải gởi ý kiến phản biện đó cho các cơ quan Đảng và Nhà nước có thẩm quyền, chứ không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ.”. Với chính sách về phản biện được xác định như vừa kể, quyết định 97 đã gặp nhiều phản ứng không đồng tình của giới trí thức ngay sau khi được công bố. Trong mấy tuần vừa qua, nhiều chuyên gia đã vạch rõ từ sự sai phạm trong việc ra văn bản này, cho đến những phân tích và chứng minh đây chỉ là một hình thức "bịt miệng" phản biện xã hội, một bước thụt lùi về dân chủ, đi ngược lại chủ trương “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” và thậm chí đi ngược lại hiến pháp hiện hành...

Ngay cả những người dễ tính nhất cũng thấy sự vô dụng của văn bản này. QĐ 97 quy định “cần phải gởi ý kiến phản biện cho các cơ quan Đảng và Nhà nước có thẩm quyền“. Đối với giới trí thức suốt hơn nửa thế kỷ qua, và hiện nay với ngay cả những người như ông Võ Nguyên Giáp đã mấy lần gửi kiến nghị can ngăn đến Bộ Chính trị, mà còn bị đảng vứt sọt rác, rồi lại còn động viên ông tướng này hãy tiếp tục đóng góp ý kiến cho đảng. Trí thức Việt Nam đâu có khờ đến độ vẫn không biết các góp ý của mình đi đâu suốt hơn 50 năm qua và tại sao đất nước cứ vấp vào các hầm hố ngày càng sâu như hiện nay.

Phản biện là sự nhận xét, đánh giá và đóng góp ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó hầu làm cho vấn đề được sáng tỏ, đúng đắn hơn. Để được như vậy, và đặc biệt đối với các vấn đề mang tầm vóc quốc gia, sự phản biện phải công khai, minh bạch, độc lập và tự do. Phản biện được quy định trong quyết định 97 là về những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã, đang hoặc sẽ được thi hành trên đất nước. Với những lãnh vực vừa kể, thường thì giới chuyên gia, trí thức sẽ là thành phần lên tiếng phản biện. Như vậy, đối tượng chính của quyết định này là giới trí thức. Đến đây câu hỏi được đặt ra là: tại sao giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam lại không dám cho công khai phản biện về đường lối, chính sách, và chủ trương của họ?

Câu trả lời là, dù liên tục sai lầm, nhưng lúc nào đảng cũng muốn nắm quyền lãnh đạo duy nhất trên mọi phương diện của đất nước. Sự phản biện công khai sẽ ngày càng bóc trần con đường mòn tư duy xưa nay của “thiếu kiến thức nhưng làm đại rồi khỏa lấp hậu quả” trong lề lối lãnh đạo, đồng thời vạch rõ tinh thần vô trách nhiệm của 15 nhà cai trị đang ngồi ở Bộ Chính Trị, và hệ quả đã được thực tế chứng minh là, đất nước phải đối diện với đủ loại vấn nạn nặng nề như hiện nay. Vì vậy, phản biện công khai không những sẽ làm tổn hại cho tư thế lãnh đạo của đảng, mà sẽ còn dẫn đến nhiều hậu quả khôn lường khác. Vì một khi tư thế lãnh đạo của đảng bị lung lay, thì niềm tin vào đảng cũng bị soi mòn, dễ dàng tạo nên tình trạng “tự diễn biến” ngay chính trong hàng ngũ đảng viên. Đây là điều mà lãnh đạo đảng đang báo động bằng cả lời nói, văn thư, và báo chí. Tác động của “tự diễn biến” sẽ làm cho các cột trụ đang chống đỡ đảng mục dần từ trong ra, và sẽ theo nhau xụp đổ. Bởi vậy, tuy phản biện xã hội thường chỉ giới hạn trong thành phần trí thức, nhưng ảnh hưởng của nó lại rất rộng và hệ trọng, vì nó có khả năng tác động trên tư tưởng của toàn xã hội. Mà theo kinh điển cộng sản thì... “tư tưởng sớm muộn gì cũng sẽ dẫn đến hành động”.

Do tầm mức quan trọng như vừa kể, nên từ trước đến nay những tiếng nói phản biện hầu như bị dập tắt ngay từ trong trứng nước. Cuộc đàn áp nhân văn giai phẩm vào thập niên 1950 của thế kỷ trước chính là một chiến dịch để tiêu diệt những tiếng nói phản biện của giới văn nghệ sĩ, trí thức thời đó. Tiếp theo, những cuộc đàn áp, bắt bớ, giam cầm những nhà trí thức trong cuộc thanh trừng “xét lại chống đảng”, cũng không nằm ngoài chủ trương này, để cuối cùng trong xã hội chỉ còn lại tiếng nói duy nhất của đảng và “đảng là chân lý”; còn đối với nhân dân thì phản biện được đồng hoá với “chống đối”, với “phản động”, dễ dàng bị nâng lên hàng “quan điểm” để bị trừng trị... Hệ quả là hầu hết con người trong xã hội chỉ còn có thể biến thành một đàn cừu, hoặc là chỉ biết nhắc lại ý của đảng, hoặc bưng tai bịt mắt trước những sai trái trong các đường lối, chính sách của đảng... Một thí dụ điển hình vẫn thường được nhắc lại để minh họa mức tai hại của sự vắng bóng phản biện trong xã hội, là nghị quyết đại hội lần thứ tư của đảng, với chủ trương “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội ”. Lúc đó hầu như bất cứ văn bản nào của chế độ cũng đều mở đầu bằng hàng chữ: “Dưới ánh sáng nghị quyết 4 của đảng....”. Nhưng đến khi bắt buộc phải “đổi mới” từ thời 1986 đến nay, thì cũng chính giới lãnh đạo đảng đã không tiếc lời chê bai cái thời bao cấp dưới “ánh sáng nghị quyết 4 của đảng” đó; và họ làm như thể sự bần cùng của đất nước, sự tụt hậu vì điểm xuất phát quá thấp là do ai đó tạo ra, chứ đảng chẳng có trách nhiệm gì cả. Và cứ thế họ tiếp tục huênh hoang về công trạng lãnh đạo của đảng đối với đất nước... Tuy nhiên, cũng kể từ đó, giới trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam đã tận dụng mọi cơ hội để gióng lên tiếng nói phản biện trước những chính sách, đường lối của đảng.

Bài viết “Bàn về sự lãnh đạo của Đảng” trên báo Khoa Học và Tổ Quốc số tháng tư năm 1990 của ông Nguyễn Kiên Giang được dư luận coi là một trong những bài phản biện mạnh mẽ nhất của thời đó. Đương nhiên tờ báo này ngay lập tức bị đóng cửa 10 tháng và tác giả bị trù dập tàn nhẫn. Trong bài viết này, ông Nguyễn Kiên Giang đã thẳng thắn nhận định rằng “Mọi ý kiến khác với ý kiến những người lãnh đạo của Đảng bị coi là chống Đảng, mà chống Đảng cũng có nghĩa là chống Nhà nước, chống chế độ, chống cách mạng. Cho đến khi Đảng nhận ra được những sai lầm của mình (triệt để hay không triệt để) thì xã hội đã gánh chịu những hậu quả cay đắng, chưa nói tới một số người phải chịu đựng sự trừng phạt trái pháp luật mà đến nay vẫn chưa giũ bỏ dược hết số phận oan trái của mình.” Sau khi phân tích về sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng đưa đến những đặc quyền cho đảng, ông đã nhấn mạnh rằng:“Nhưng còn một thứ đặc quyền khác còn nguy hiểm hơn nhiều: đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý. Có thể tính tác hại của đặc quyền vật chất thành những số tiền của mất đi, nhưng không thể nào tính được tác hại của đặc quyền tinh thần của độc quyền chân lý bằng những thước đo sờ thấy. Mà tác hại của thứ đặc quyền này đối với xã hội thì thật ghê gớm.”

Đến nay, gần 20 mươi năm sau khi ông Nguyễn Kiên Giang viết những giòng trên, giá trị của những nhận định đó vẫn nguyên vẹn. Do đó, những phản biện về đường lối, chính sách của đảng vẫn luôn luôn là nhu cầu bức thiết, nhất là tình hình đất nước lại đang nảy sinh thêm những vấn đề phức tạp khác phát xuất từ các “chủ trương lớn” của đảng. Thực ra bên cạnh vấn đề độc quyền lãnh đạo của đảng, từ đầu thập niên 90, những bài tiểu luận của ông Hà Sĩ Phu, đặc biệt là tập “Chia Tay Ý Thức Hệ”, đã đánh sập nền tảng tư tưởng Mác Lê, khiến cả một Hội Đồng Lý Luận Trung Ương của đảng không thể nào chống đỡ nổi; rồi sự phát triển của các phương tiện truyền thông đã ngày càng mở rộng thêm cho sự phản biện về mọi vấn đề của đất nước do đảng độc quyền kiểm soát. Nếu thực sự tự tin là mình có những đường lối đúng đắn, thì đảng đã không cần có nghị định 31/CP, không cần đến luật hình sự 88,... và không cần lúc nào cũng phải “tăng cường sự lãnh đạo của đảng” trong vấn đề này vấn đề kia. Do không tự tin, thiếu hiểu biết, thiếu chuẩn bị nên lúng túng trước những phản biện xã hội, đảng đã phải đẻ ra hết luật này này đến luật nọ, mà mục đích chỉ là để bịt miệng những tiếng nói phản biện. Và bây giờ là quyết định 97 để cho thấy rằng những cách bịt miệng và còng số 8 hiện có... vẫn chưa đủ.

Chống những người lãnh đạo bất xứng không phải là chống đất nước; và bảo vệ đồng bào ruột thịt lại càng không phải là chống đất nước.

Mới tháng 7 năm ngoái, nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển đã phát biểu tại hội thảo của giới trí thức rằng: “Rõ ràng, phải tạo điều kiện hơn nữa cho tranh luận, phản biện". Và rằng: “Cần mở rộng hơn nữa hệ tư tưởng, đặt đúng vai trò của trí thức". Không biết lúc đó ông Tuyển có biết mình đang nói gì không, hay hiện giờ chính ông cũng đã bị “dán băng keo” rồi. Cũng không lẽ giới trí thức Việt Nam đã xuống cấp quá nhanh trong vòng 1 năm và không còn là trí thức nữa? Có lẽ dưới ánh sáng của QĐ 97, người ta chỉ còn có thể kết luận các tuyên bố của Bộ trưởng Trương Đình Tuyển là “phản động”!

Phải chăng những phản biện của quần chúng về vấn đề biển, đảo, ngư dân và nhất là bô-xít Tây Nguyên đang làm cho đàn anh phương Bắc không hài lòng? Và phải chăng vì đã bỏ túi hơn 150 triệu đô thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải làm sao coi cho được? Phải chăng những lên tiếng của giới trí thức mà đảng không có cách nào phản bác được, nhưng lại vẫn muốn tiến hành “chủ trương lớn”, nên phải lập ra một khung pháp lý để ngăn chặn và dập tắt sự lên tiếng?

Bên cạnh đó còn nhiều vấn đề của đảng chưa được phản biện một cách rốt ráo, mà đảng sợ rằng, càng rốt ráo minh bạch thì đảng càng lâm vào thế bí. Chẳng hạn, như từ trước đến nay, đảng vẫn khép tội những người bất đồng chính kíến là “nói xấu nhà nước”, là “chống lại nhà nước XHCNVN”, v.v... Nếu không ngăn chặn phản biện công khai thì rồi đây sẽ có lúc vấn đề đặt ra sẽ là: “Một đảng và nhà nước nằm trong hệ thống diệt chủng như đã bị nghị quyết 1481của Nghị Viện Âu Châu lên án, thì đảng và nhà nước đó tốt hay xấu?“. “Một đảng và nhà nước bán đất, dâng biển cho ngoại bang, thì đảng và nhà nước đó tốt hay xấu? “v.v.... Nếu xấu, thì lên tiếng phản đối một đảng và nhà nước xấu là có tội, hay là nhiệm vụ của bất cứ một ai có lương tâm trên quả đất này?

Tóm lại, các nhà lãnh đạo tại Hà Nội biết rằng càng ngày họ sẽ càng bí lối về mặt lý luận cũng như trong việc biện minh cho những chính sách đường lối của họ, khi mà những phản biện công khai ngày càng vạch ra chuỗi sai lầm triền miên. Điều này chắc chắn sẽ gây thương tổn ngày càng trầm trọng cho tư thế lãnh đạo của đảng để dẫn đến những hậu quả khác như đã trình bày ở trên. Bởi vậy mà quyết định 97 đã ra đời để mong bịt miệng phản biện bằng bạo lực. Do đó QĐ 97 là bằng chứng về sự yếu kém và xuống cấp của lãnh đạo đảng CSVN.

Những nỗ lực cao quí hiện nay của giới trí thức Việt Nam cho thấy không mấy ai đã nhìn ra thực trạng đất nước mà còn có thể an tâm phó mặc tương lai dân tộc vào tay 15 con người thiếu cả khả năng lẫn tinh thần trách nhiệm. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả, giới trí thức Việt Nam đang đi đầu và hướng dẫn cả dân tộc trong nhận thức: Chống những người lãnh đạo bất xứng không phải là chống đất nước; và bảo vệ đồng bào ruột thịt lại càng không phải là chống đất nước.

Monday, August 31, 2009

Năm ngàn một trăm bốn mươi bảy lượng vàng hiến cho Chính phủ cách mạng lâm thời.

31/08/2009 06:22 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Sáu mươi tư mùa thu kể từ những ngày Tháng Tám, nhà báo Xuân Ba đã tìm đến nhà cụ quả phụ Trịnh Văn Bô - một nhân chứng lịch sử.
Sáu mươi tư mùa thu kể từ những ngày Tháng Tám sục sụi trong từng huyết quản của mỗi lương dân đất Việt. Tôi tìm đến nhà cụ quả phụ Trịnh Văn Bô. Một nhân chứng lịch sử.


Ông bà Trịnh Văn Bô. Ảnh: Xuân Ba

Tôi được hầu chuyện cụ lần mới đây nhất là mùa hạ năm ngoái nhân có cuộc hội thảo của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Hội đồng tộc Trịnh Việt Nam dịp 480 năm ngày mất của Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng (cụ Trịnh Văn Bô là viễn tổ, đời thứ 17 của Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương).
Cụ quả phụ Trịnh Văn Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, năm nay tròn 96 tuổi. Con số, nhiều khi chả nói lên được mấy điều gì nhưng cũng phải nhắc lại rằng: 5147, năm ngàn một trăm bốn mươi bảy lượng vàng mà gia đình ông bà Trịnh Văn Bô đã hiến cho Chính phủ cách mạng lâm thời trong những ngày đầu cam go.
Đó là chưa kể những ngôi nhà mà ông bà hiến cho cách mạng trong đó có ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang là nơi Bác Hồ và các đồng chí như: Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp... từ chiến khu về Hà Nội đã ở. Chính trong ngôi nhà này, Bác Hồ đã viết Tuyên ngôn Độc lập.
Ngôi nhà 48 Hàng Ngang hiện được xếp hạng Di tích Lịch sử. Năm 1946, ông Trịnh Văn Bô được tháp tùng Bác Hồ sang thăm Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp.
Hồi ức của nhà văn Sơn Tùng
Trong giới viết lách Việt, nhà văn Sơn Tựng có nhiều hồi ức, ghi chép về gia đình cụ Trịnh Văn Bô.
Trong câu chuyện giữa nhà văn và bà quả phụ Trịnh Văn Bô, tức bà Hoàng Thị Minh Hồ đã lưu đậm một sự kiện lịch sử...
... Ngày 26 tháng 8 là ngày chủ nhật, ngày của Tuần lễ đầu tiên Hà Nội giành chính quyền về tay nhân dân.
Mới sáng tỏ mặt người, ông Nguyễn Lương Bằng, ông Vũ Đình Huỳnh gặp tôi "Ông Cụ tiếp khách nước ngoài trưa hôm nay. Một vị khách rất quan trọng có quan hệ công việc với Ông Cụ. Nhờ chị giúp cho một tiệc mặn một tiệc trà sau bữa ăn. Chỉ có 6 người thôi. Theo ý ông Cụ, không nhiều món cốt là ngon cái phong vị Việt Nam. Nhưng rượu là trọng vị của bữa ăn đối với vị khách này"".
Tôi hỏi cho rõ hơn vị khách này kén rượu ắt là kén cà phê thuộc loại hảo hạng? Cả hai ông cùng cười đắc ý...
Tôi bèn đến Hàng Buồm hiệu Đông Hưng Viên nổi tiếng đặt món ăn và một chai Wissky loại Johnnie Walk Old Frotech Wissky. Nhưng về sau ông Huỳnh lại bảo, ông Cụ hiểu rõ sở thích của khách ưng uống loại Vermouth.
Ông Huỳnh cho biết đúng 12 giờ thì khách đến. Ông Cụ tiếp cơm khách tại gác 2 phòng chính lầu bên trong của toà nhà 48 Hàng Ngang. Tôi cho bày biện trang hoàng xong từ 10 giờ... Nhưng không rõ lý do gì vị khách đến chậm. Ông Trường Chinh, ông Võ Nguyên Giáp mấy lần ra cửa ngóng... Ông Nguyễn Lương Bằng, ông Vũ Đình Huỳnh xuống tận gác một dưới nhà đợi.
Đến 12 giờ 30 vẫn chưa thấy xe đón khách về. Ông Cụ lại ra cửa... Giữa ban trưa, tôi nhìn qua khe màn gió thấy rõ được ông Cụ. Từ hôm Cụ về được cụ hỏi han, biết Cụ là một nhân vật quan trọng ai cũng nể vì, tôi vô cùng kính phục và tin tưởng.
Giữa trưa này, ông Cụ trong bộ áo cũ nâu sồng gầy đanh như một đạo cốt, mắt sáng mà dịu dàng nhìn suốt đến tận cùng... Lòng tôi tràn đầy một niềm thương kính... Cụ như một người mẹ, như một Đức Tin...
Cụ quả phụ Trịnh Văn Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, năm nay tròn 96 tuổi. Ảnh Xuân Ba.

Gần 1 giờ chiều xe đón khách ông Cụ mới về. Mọi người đều lui vào phía trong. Ông Cụ và ông Võ Nguyên Giáp đón khách ngay tại cửa. Chào hỏi nhau bằng tiếng Pháp. Ông Cụ và vị khách dùng tiếng Anh.
Từ phút này tôi không được biết gì thêm nữa... Một lúc sau đưa các món ăn lên bàn tiệc tại phòng khách. Trong mâm sáu người chỉ có một suất dùng đồ Tây. Nhưng vị khách ngoại quốc này cầm được đũa, gia nhân tôi đem đũa bát vào...
Sau bữa cơm, ông Cụ tiếp vị khách ở phòng trà trông ra ban công có cây cảnh và hoa. Cuộc đàm đạo diễn ra tận chiều tắt mới kết. Bấy giờ qua ông Nguyễn Lương Bằng, tôi được biết vị khách ngoại quốc ấy là thiếu tá Patti một người Mỹ trong phe đồng minh chống phát xít!
Hôm sau vợ chồng tôi tiếp khách có Bác và mấy người Mỹ. Tôi nhớ rất rõ hai người là thiếu tá Thomas và Patti. Chính hôm đó Bác trao đổi với Patti về bản Tuyên ngôn Độc lập.
Đọc ngay trang đầu, Patti quay sang nói với Bác rằng hình như tôi đã đọc những dòng này ở đâu đó? Bác cười, đó là những điều mà bản Tuyên ngôn nhân quyền bất hủ của đất nước các bạn...
Viết đến đây chợt nhớ đến một sử gia đó từng nhận xét đại ý, những lãnh tụ lập quốc thường có những đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức Dân tộc và nhân dân, thậm chí với nhân loại nữa!
Truân chuyên, nhiêu khê về ngôi nhà 34 Hoàng Diệu
Đã mươi lăm năm có lẻ...
Trong số đơn từ của bạn đọc gửi về cho Toà báo, tôi có nhận được một lá đơn của chính bà Hoàng Thị Minh Hồ gửi đến nhiều cơ quan ngôn luận khác, can thiệp với các cơ quan có trách nhiệm để gia đình bà xin lại ngôi nhà 34 phố Hoàng Diệu mà bà cho mượn từ năm 1954. Tóm tắt lá đơn cũng như diễn tiến của nội vụ như thế này:
... Tháng 10 năm 1987, đồng chí cố vấn Trường Chinh có mời ông Trịnh Văn Bô (ông Trịnh Văn Bô đã mất năm 1988. Cả hai ông bà đều được tặng phần thưởng cao quý, Huân chương Độc Lập Hạng Nhất) và bà Hoàng Thị Minh Hồ lên gặp thăm hỏi và trao đổi công việc.
Hai ông bà nhân cuộc gặp thân mật này đã ngỏ ý kiến với đồng chí Cố vấn, xin Đảng và Nhà nước cho phép gia đình được trở về sống tại 34 Hoàng Diệu, Quận Ba Đình vì gia đình ông bà hiện đông các con cùng các cháu, chắt. Cả bốn thế hệ lại ở trong một ngôi nhà tại phố Nguyễn Gia Thiều.
Nhà 34 Hoàng Diệu, ông bà Trịnh Văn Bô cho Thiếu tướng Hoàng Văn Thái mượn từ những ngày Tiếp quản Thủ Đô năm 1954 với thời hạn 2 năm (1954-1956) đến ngày Tổng tuyển cử đất nước thì trả. Sự việc này đã được các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ xác nhận. Nhưng rồi cuộc chiến tranh vệ quốc đó trở nên dằng dặc, gian nan...
Năm 1986, đồng chí Hoàng Văn Thái mất, Bộ Quốc Phòng xây nhà cho các tướng lĩnh cao cấp tại Liễu Giai rộng rãi khang trang. Đây là khu biệt thự đặc biệt giành cho các tướng lĩnh hàng đầu của quân đội.
Ngày 24 tháng 6 năm 1988, đồng chí Lê Đức Thọ đã gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh thông báo ý kiến của các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ về việc cả ba đồng chí cùng nhất trí cho gia đình ông bà Trịnh Văn Bô cùng các con cái cháu chắt được về sống tại 34 Hoàng Diệu.
Ngày 10 tháng 12 năm 1988, đồng chí Lê Đức Thọ gửi thư cho bà Trịnh Văn Bô thông báo việc cả ba đồng chí Cố vấn và đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh cùng nhất trí cho gia đình bà Trịnh Văn Bô được trở về sống ở 34 Hoàng Diệu.
Đồng chí Lê Đức Thọ đã chỉ thị cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Đức Anh bố trí cho gia đình đồng chí Hoàng Văn Thái nhà ở cho thật tốt, đầy đủ tiện nghi sao cho xứng đáng với công lao của Đại tướng đối với cách mạng, đối với quân đội. Sau đó, bà quả phụ đại tướng Hoàng Văn Thái và gia đình đã trả nhà 34 Hoàng Diệu chuyển xuống khu biệt thự Liễu Giai.
Ngày 1 tháng 6 năm 1989, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đã phê chuẩn việc trả lại nhà 34 Hoàng Diệu cho bà Bô. Ngày 10 tháng 7 năm 1990, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo cũng có ý kiến nhất trí việc trả nhà cho bà Bô.
Năm tháng cứ lần lữa trôi... Bà Bô vẫn chưa nhận được nhà...


Ảnh: Xuân Ba

Ngày 10 tháng 12 năm 1993, đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là Thủ tướng Chính phủ sau khi tiếp nhận đơn của bà Bô đã đồng ý việc trả nhà 34 Hoàng Diệu cho gia đình bà Bô. Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao cho Phó Thủ tướng thời đó là đồng chí Phan Văn Khải ký quyết định trả nhà này.
Ngày 8 tháng 10 năm 1994, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải đã có công văn nhắc Bộ Quốc phòng sớm thực hiện việc trả nhà.
Ngày 24 tháng 10 năm 1994, Bộ Quốc phòng, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở nhà đất thành phố Hà Nội đã họp và quyết định trả nhà cho bà Bô.
vv... và vv...
Nhưng qua năm đó và năm sau nữa, bà Hoàng Thị Minh Hồ tức bà quả phụ Trịnh Văn Bô vẫn không nhận được nhà 34 Hoàng Diệu!
Thời điểm ấy, nhiều phóng viên khi nhận được đơn thư của bà quả phụ Trịnh Văn Bô đã bức xúc trước điều kỳ quặc đến khó hiểu, rằng từng ấy cá nhân và cơ quan có trách nhiệm đã quyết định việc trả nhà 34 Hoàng Diệu cho gia đình bà Bô tức bà Hoàng Thị Minh Hồ, với ngần ấy những chữ ký đầy quyền lực mà bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp được đến ở nhà 34 Hoàng Diệu!
Rồi tất thảy cũng ngơ ngác khi biết rằng, không biết từ đâu phát ra cái lệnh đây là vấn đề nhạy cảm (?!) hạn chế việc đưa tin!
Chỉ còn cách, cái cách muôn thủa, cái công việc việc đằng sau mặt báo tẻ ngắt, vô thưởng vô phạt và cũng vô trách nhiệm nữa là các toà báo từng nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của gia đình bà Trịnh Văn Bô cũng chỉ biết kính chuyển những lá đơn đó đến các cơ quan có trách nhiệm!
Mãi cho đến 9 năm sau, phải 9 năm, bằng độ dài thời gian của cuộc kháng chiến chống Pháp, gia đình bà quả phụ Trịnh Văn Bô mới được trở về ngôi nhà cũ của mình ở 34 Hoàng Diệu, với những giấy tờ về bằng khoán điền thổ của ngôi nhà mà gia đình bà đó mua từ trước cách mạng.
Có vô số những chuyện về quãng thời gian đợi và đòi nhà ấy! Nhưng mà thôi, có lẽ chả ích chi khi kể ra những việc buồn lẽ ra không đáng có đó?
Ghi chép của Xuân Ba

Nhiều tàu nước ngoài đến nạo hút cát trái phép

BÀ RỊA - VŨNG TÀU
(NLĐ) - UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 30-8 cho biết vừa chỉ đạo Bộ đội Biên phòng, Sở GTVT, Cảng vụ Vũng Tàu cùng CSGT đường thủy thực hiện các biện pháp kiểm soát và đình chỉ việc nạo vét cát trái phép tại cửa biển Lộc An để tránh sạt lở.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng Bà Rịa - Vũng tàu, khu vực cửa biển Lộc An thường xuyên có 17 sà lan và tàu nước ngoài vào nạo vét cát trái phép làm sạt lở bờ biển. Trong đó, Công ty TNHH Phước Luân (Bà Rịa - Vũng Tàu) đã bị lập biên bản vì đưa 10 chiếc tàu tự hành có trang bị máy bơm hút cát (có cả tàu Trung Quốc, dù đã làm thủ tục nhập cảnh VN nhưng không báo cáo với Sở GTVT tỉnh) vào khu vực cửa biển Lộc An hoạt động.

“Giặc vàng” tàn phá sông, suối

Hàng loạt điểm khai thác vàng trái phép tiếp tục diễn ra công khai và kéo dài ở Quảng Nam đã gây mất an ninh, trật tự, khiến dư luận bức xúc
Từ cuối tháng 7-2009 đến nay, tình trạng khai thác vàng sa khoáng trái phép lại diễn ra ồ ạt tại nhiều địa phương ở các huyện miền núi Quảng Nam.
Nhiều sông suối ở Quảng Nam bị băm nát do khai thác vàng sa khoáng trái phép. Ảnh: N.L.S.Minh
Băm nát núi rừng, sông suối
Dọc các con sông, dòng suối và những cánh rừng tại các huyện miền núi Phước Sơn, Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang, Hiệp Đức, Tiên Phước (Quảng Nam), hiện đang có rất nhiều điểm nóng về khai thác vàng sa khoáng và vàng gốc trái phép. Nhiều nơi, “giặc vàng” đưa cả máy ủi, tàu cuốc, máy nổ và hàng chục nhân công vào đào vàng cả ngày lẫn đêm, gây náo loạn cả vùng.
Dọc sông Vàng qua khu vực Nà Mun (xã Tư, huyện Đông Giang) đã và đang bị băm nát, hầm hố nham nhở, cây cối đổ ngổn ngang, nước sông đỏ quạch... Nơi đây trở thành lãnh địa của những người khai thác vàng trái phép, ngay cả những người Cơtu bản địa cũng không dám bén mảng đến. Ông Nguyễn Văn Phải, Chủ tịch UBND xã Tư, tỏ vẻ bất lực: “Biết rừng Nà Mun bị tàn phá nghiêm trọng nhưng chúng tôi cũng không thể làm gì hơn. Lực lượng liên ngành của huyện Đông Giang đã tăng cường về địa phương nhưng tình hình khai thác vàng trái phép có giảm được đâu”.
Hầu hết các con sông, dòng suối ở huyện Phước Sơn đều có những tụ điểm khai thác vàng trái phép. Nhiều đoạn sông Mỹ ở xã Phước Xuân, sông Đăkmy ở Phước Chánh, sông Trường ở Phước Hiệp, suối Đăksa ở Phước Đức, suối Đăkmet ở Phước Thành... bị “giặc vàng” biến thành sông, suối chết do môi trường bị tàn phá và ô nhiễm thủy ngân, cyanur... nghiêm trọng. Theo Phòng Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) huyện Phước Sơn, ngoài 12 công ty được cấp phép, trên địa bàn huyện còn có hàng chục điểm khai thác vàng chui; một số công ty, đơn vị cũng tham gia vào đội quân “giặc vàng”. Dù chưa có giấy phép nhưng hơn tháng nay, Công ty TNHH Thiên Phước vẫn đưa phương tiện và nhân công vào khai thác vàng dọc dòng sông Đăkmy tại thôn 4, xã Phước Đức.
Truy quét cũng như không
Ông Đinh Văn Long, Phó Phòng TN-MT huyện Phước Sơn, cho biết từ đầu năm đến nay, lực lượng liên ngành của huyện đã tổ chức 4 đợt truy quét vào các điểm nóng khai thác vàng trái phép ở huyện. Các cuộc đột kích đều bất ngờ, bí mật nhưng khi đến nơi thì “giặc vàng” đã cao chạy xa bay. Lực lượng chức năng giữ 28 máy nổ dùng để khai thác vàng, đốt 15 lán trại, chặt phá 5.000 m ống dây dẫn nước; xử phạt hành chính 210 triệu đồng và phạt vi phạm môi trường 25 triệu đồng đối với những đơn vị chưa được cấp phép hoặc được cấp phép nhưng không thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.
Các địa phương miền núi Quảng Nam hiện đang đau đầu với những hệ lụy của việc khai thác vàng trái phép. Không chỉ đất rừng bị mất, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng mà đủ thứ tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, HIV/AIDS... cũng bộc phát. Một số sơn nữ vùng cao bị cuốn vào vòng xoáy của vàng. Họ lao động nặng nhọc, bị lạm dụng, bị lừa tình trở thành những cô gái không chồng mà có con, sống lay lắt trong khó khăn và trong sự hắt hủi vì luật tục của buôn làng.
Ông Doãn Văn Thanh, Trưởng Phòng Khoáng sản - Sở TN-MT Quảng Nam, thừa nhận: “Kiểm soát tình hình khai thác vàng trái phép ở các địa phương miền núi rất khó khăn. Lực lượng chức năng của tỉnh và huyện tổ chức truy quét, đẩy đuổi xong, sau khi rút về thì đâu lại vào đấy”.
Sẽ xử lý triệt để các điểm nóng
Trước diễn biến phức tạp của tình trạng khai thác vàng trái phép ở các địa phương miền núi, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Nguyễn Ngọc Quang vừa ký công điện chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh xử lý triệt để các điểm nóng, đẩy đuổi các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép ra khỏi địa bàn và xử lý nghiêm hành vi tiếp tay, thỏa hiệp với “giặc vàng”.
Công điện nêu rõ: “Trường hợp chính quyền địa phương cơ sở không chấp hành thực hiện hoặc chần chừ, né tránh, dung túng cho các đối tượng vi phạm, còn để hoạt động khai thác vàng trái phép tiếp diễn thì chủ tịch UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh và pháp luật”.
NHI LY - SƠN MINH

Giật mình nghĩa địa “ết” giữa đại ngàn

Già Nắn chỉ vòng hoa rừng toàn màu trắng còn tươi nguyên nói: “Dọc ni có 11 ngôi mộ, toàn là những thằng còn trẻ. Chúng đang ngực căng cánh nỏ, mà con ma tuý, con “ết” hắn quật cho nên phải nằm lại đây!”.
“Đại dịch trắng” nhấn chìm bản làng
“Chuyện dao kiếm tui không ngán nhưng vào Yên Tĩnh vẫn thấy ớn cái xilanh của mấy thằng nghiện, lỡ chạm vào là đi chầu phà (chầu trời). Nể “bác cả” giới thiệu nên tôi mới đưa các anh đi”, Hùng râu, tay xe ôm dáng người cao to, râu quai nón rậm rì, bảo vậy rồi dẫn chúng tôi vào xã Yên Tĩnh (huyện Tương Dương, Nghệ An).

Nghĩa địa ma tuý của Chà Lủm.

Hoàng hôn lấp ló sau những cánh rừng chúng tôi mới đến nơi. Chỉ vào những túp lều tranh xiêu vẹo, rách nát, kiểu nhà sàn nằm lẩn quất dưới chân núi, Hùng nói: “Bản Chà Lủm đó!”.

Hùng kể: “Cái “bột trắng” chết tiệt đã huỷ bản làng ra nông nỗi này. Giờ có hàng chục nấm mồ nằm trên các viền đồi. Không tên tuổi, không địa chỉ, năm sinh, những nấm mồ nằm im, cỏ dại phủ lấp”.

Chà Lủm là bản xa nhất của xã Yên Tĩnh. Trước đây, có điểm khai thác vàng, người tứ xứ đổ về đây. Rừng núi tan hoang. Dân bản được dụ dỗ làm cửu vạn mà “mồi” là thứ thuốc trắng với lời “quảng cáo”: “Thuốc của Phà, hút vô khoẻ như voi, đào được nhiều vàng tha hồ sướng”.

Những chàng trai căng sức, tuổi bẻ gãy sừng trâu dật dờ dần và càng ngày càng bị lệ thuốc vào con “ma trắng”. Tiền làm đến đâu, nuôi “ma trắng” đến đấy.

Rồi chính quyền và công an vào cuộc, nạn khai thác vàng chấm dứt, nhóm khai thác vàng về xuôi. Nhưng đại dịch trắng đã kịp nhấn chìm dần làng bản.

Bản “chết non”

Nắng quái chiều giữa đại ngàn. Không một làn gió, chỉ nghe âm thanh u... u như tiếng rừng thở. Tiếng chim lợn trên núi thả rơi vào thinh không nghe rờn rợn.

Trưởng bản Chà Lủm, ông Vi Thành đôi mắt buồn xo: “Bản ta giờ là bản nghiện. Già trẻ gái trai bị Phà (ông trời) bắt gần hết rồi”.

Già Nắn hơn 70 tuổi nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, dẫn chúng tôi vào rú mồ. Rú mồ này nằm dưới dãy Pù Huông rộng khoảng vài mẫu, có rất nhiều cây cổ thụ ken dày, ánh nắng mặt trời không lọt xuống đất. Không khí nơi đây lạnh lẽo khác thường.

Hầu hết di ảnh của thanh niên ở bản Chà Lủm đều gắn liền với nỗi đau ma tuý.

Đi thêm một đoạn, già Nắn chỉ vòng hoa rừng toàn màu trắng còn tươi nguyên nói: “Dọc ni có 11 ngôi mộ, toàn là những thằng còn trẻ, chưa vợ mô. Chúng đang ngực căng cánh nỏ, sức như con voi con báo rừng mùa động cái, rứa mà con ma tuý, con “ết” hắn quật cho nên phải nằm lại đây!”

Vi Văn Tắn sinh ra trong một gia đình ở bên con khe Líp xã Yên Tĩnh. Tuy là con trai một nhưng Tắn ngoan ngoãn và học giỏi. Tắn đã đem lòng yêu tha thiết cô gái Vi Thị Va nhà ở đầu bản. Chỉ còn mấy ngày nữa là Tắn thi đại học.

Tắn bàn với người yêu là thi xong đại học sẽ về cưới nhau. Sau một chầu nhậu quắc cần câu, đám bạn rủ “mần” một tí cho biết. Trong liêng biêng men rượu Tắn chặc lưỡi: “Sợ gì, mần thì mần”.

Tắn để cho đứa bạn dùng xi lanh chích heroin vào ven. Bơm tiêm chưa kịp rút ra, Tắn bỗng dưng ngã xuống đất giãy đành đạch, sùi bọt mép, rồi chết vì sốc thuốc! Mẹ Tắn khóc hết nước mắt, tiếng khóc của người mẹ vật vã như muốn xé cả màn đêm yên tĩnh.

“Như bán hàng đa cấp”

Vi Văn Di, một con nghiện mới đi cai về, ngậm ngùi kể cho chúng tôi rằng, những “quái” ma tuý thường dùng chiêu rủ đi nhậu để làm gia tăng con nghiện. Cứ thế, số lượng con nghiện tăng dần lên như kiểu bán hàng đa cấp.


Tương lai nhiều đứa trẻ ở bản mù mịt vì khói thuốc phiện.

Lô Văn Pin là chàng trai thông minh học giỏi. Đang học năm thứ nhất của một trường đại học ở Hà Nội, trong một lần về nghỉ hè, Pin đã lọt vào tầm ngắm của các quái nghiện ở bản. Chúng rủ Pin đi chơi, rồi mời hút thuốc lá, trong đó đã bị bỏ heroin. Chỉ mươi ngày là Pin dính “cước”. Đã dính rồi thì các quái nghiện dắt mũi thế nào chẳng được.

Vậy là tiền bố mẹ cho đi học Pin đốt tan thành khói trắng. Hết tiền, Pin bỏ học về bản giao du với những quái nghiện và cuối cùng nằm lại rú mồ khi mới hai mươi tuổi.

Ông Lâm Việt Minh - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Tĩnh - mắt nhoè nước, mắc nghẹn trong tiếng nấc, chỉ hai lùm cỏ xanh phía tây rú mồ: “Hai con trai tui là Lâm Văn Bích (SN 1980) và Lâm Văn Hơi (SN 1983) đã nằm đây. Chúng mới chết cách đây chưa lâu, vì nghiện ma túy rồi dính HIV/AIDS”.

Ông Minh cho biết thêm, mấy năm gần đây, xã Yên Tĩnh có tới 44 người chết vì “ết”. Từ năm 2008 đến nay, xã đã có hơn 11 trường hợp nằm lại dưới những nấm mồ. Trong số đó chủ yếu là chết trẻ. Một con số khiến người ta giật mình.

Theo Bee.net.vn

"Nâng cao sức cạnh tranh cho hàng Việt" , nhưng lại " Da giày, đồ gỗ: nhập 80% nguyên liệu".

TT - Nguyên liệu quan trọng nhất trong ngành da giày là da nhưng hiện nay VN đang phải nhập đến 80%. Tình trạng trên cũng xảy ra tương tự đối với ngành đồ gỗ. Điều này đã tác động không nhỏ đến sức cạnh tranh của những mặt hàng này ở ngay thị trường nội.

Công nhân dán đế giày tại DNTN giày Á Châu -Ảnh: THANH ĐẠM

Ông Mười Thành, chủ cơ sở giày Thành Danh (Q.6, TP.HCM) thừa nhận gần 20 năm đóng giày bỏ mối cho các chợ bán sỉ ở TP.HCM, loại giả da mà cơ sở ông mua của một nhà sản xuất trong nước vẫn không khác biệt so với ngày đầu ông vào nghề. “Quanh đi quẩn lại chỉ có loại giả da đóng cho giày nam, loại da dán simili cho giày nữ!”, ông Thành than thở.

Nhập khoen, móc, khóa...

Với các loại giày dép sử dụng chất liệu EVA, PU..., ông Nguyễn Đình Kim, giám đốc doanh nghiệp (DN) tư nhân giày Á Châu, cho hay DN cũng phải nhập vì trong nước chưa có nhiều khả năng để cung ứng các loại nguyên liệu có gốc hóa dầu. Còn nếu sử dụng chất liệu từ cao su, nguồn cung trong nước cũng trồi sụt thất thường.

“Nói nhiều hơn làm”

Câu chuyện làm sao để bớt phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu được các DN cho là “xưa như trái đất” nên chẳng muốn đề cập bởi đã “nói nhiều hơn làm”. Ví dụ điển hình trong ngành da giày là chương trình xây dựng cụm hoặc KCN cho ngành thuộc da đã bị “tắc” lâu nay. Nhiều đề án nuôi bò lấy da bị phá sản hoàn toàn. Theo ông Kiệt, Hiệp hội Da giày VN (Lefaso) đang có chương trình phối hợp với Hiệp hội Dệt may VN (Vitas) thành lập một khu công nghiệp dệt nhuộm - thuộc da. Tuy nhiên, lãnh đạo các tỉnh vẫn tỏ ra e ngại vấn đề môi trường.

Với dòng sản phẩm trung bình khá trở lên, ông Trần Đức Triều, giám đốc thương hiệu giày T&T, cho biết khó lòng sử dụng nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước do không đáp ứng độ tinh xảo cho đối tượng khách hàng cao cấp hơn. Theo ông Triều, do nhu cầu thị trường nội địa còn nhỏ, phần lớn DN vừa làm vừa thăm dò nên “không thể đặt mua một khối lượng lớn nguyên liệu để sản xuất hàng loạt như các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới”.

Riêng các loại phụ kiện tưởng chừng đơn giản như móc, khóa, khoen... dù một số được sản xuất trong nước, nhưng nếu xét về độ tinh xảo lẫn yếu tố an toàn cho người sử dụng thì hàng nội địa cũng bị hàng nhập lấn át. Còn những DN sản xuất phụ liệu đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế chỉ đủ cung ứng cho DN xuất khẩu.

Theo ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hội Da giày VN (Lefaso), nguyên liệu quan trọng nhất trong ngành sản xuất giày là da, hiện tại phải nhập khẩu trên 80% phục vụ sản xuất nội địa và xuất khẩu. Phần lớn DN sản xuất da trong nước đều nhập và chế biến từ da đã thuộc sẵn, số DN sản xuất khép kín từ da muối là rất ít. Đẳng cấp da sản xuất trong nước hầu hết ở mức chất lượng trung bình và trung bình khá. Ông Kiệt cũng cho rằng công nghệ sản xuất da phần lớn là công nghệ cũ. Do vậy khi đặt vấn đề thành lập các nhà máy sản xuất, nhiều tỉnh từ chối do lo ngại ảnh hưởng môi trường.

Nguy cơ từ sự phụ thuộc nguyên liệu

Ngành chế biến gỗ xuất khẩu mặc dù phát triển mạnh trong những năm gần đây, song tình trạng “đói” nguyên phụ liệu cũng tương tự như dệt may, da giày. Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (Hawa), việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu không chỉ ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho DN xuất khẩu VN mà còn dẫn đến nguy cơ lớn hơn là phá sản cả một ngành chế biến đầy tiềm năng phát triển. Các nhà nhập khẩu đã cảnh báo sẽ ưu tiên mua hàng, thậm chí mua với giá cao, đối với những nhà cung cấp có sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, thân thiện môi trường. Điều này sẽ là một thách thức lớn đối với VN.

Ông Thắng giải thích: “Các DN VN nhập khẩu gỗ từ Brazil phải chở về bằng tàu thủy và trên cả một đoạn đường đi dài đó biết bao nhiêu khí thải độc hại xả ra góp phần tạo nên hiện tượng trái đất nóng dần lên... Do đó, những nhà cung cấp đồ gỗ mà phải nhập khẩu nguyên liệu sẽ không còn nằm trong danh sách ưu tiên xem xét đàm phán như trước đây”.

Năm 2008, VN đã bỏ ra trên 1 tỉ USD để nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Chỉ tính riêng tại các cảng ở TP.HCM, bình quân mỗi tháng các DN phải nhập trên 10-30 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ.

Phân tích vì sao chưa thể xây dựng được một chiến lược bài bản cho vùng nguyên liệu gỗ, ông Nguyễn Chiến Thắng cho rằng đất đai để trồng rừng quá manh mún, nhiều nơi muốn trồng được phải bỏ chi phí quá lớn, trong khi thiếu chính sách khuyến khích. “Hiện tại cũng có người trồng rừng nhưng không phải cung cấp cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu mà chủ yếu dành cho ngành giấy. Trồng rừng để lấy gỗ phải mất 10-15 năm, nhưng đâu có ngân hàng nào cho vay chừng ấy năm. Mà vay 2-3 năm đã bắt đầu trả thì DN không dám đầu tư trồng rừng bởi vì không hiệu quả”, chủ tịch Hawa nói.

Ông Vũ Hoàng, phó tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên thương mại và chế biến gỗ Hưng Thịnh (Bình Phước), cho một ví dụ khác về sự bất cập này: “Cây gỗ ở một số nơi trên Tây nguyên rất tốt, khai thác được nhưng tính cả tiền vận chuyển vào thì giá thành cao hơn chúng tôi mua gỗ nhập khẩu tại TP.HCM”.

LÊ NGUYÊN MINH - TRẦN VŨ NGHI

Ngã vào TP.HCM của thực phẩm dơ

SGTT - TP.HCM là nơi tiêu thụ thực phẩm nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam, nhưng phải nhập từ nhiều nguồn, trong đó có cả nước ngoài. Công tác kiểm tra thực phẩm được giám sát khá chặt chẽ, qua nhiều đơn vị như chi cục Thú y, Quản lý thị trường, chi cục Bảo vệ thực vật, chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Y tế, đoàn kiểm tra liên ngành... Thế nhưng, ngoài số thực phẩm ghi nhận được trên sổ sách, có giấy chứng nhận, thì ngày ngày, một lượng không nhỏ thực phẩm “không tên”, thậm chí kém chất lượng vẫn luồn lách vào an toàn…

Chủ hàng tẩu tán heo bơm nước khi bị thú y phát hiện tại một cơ sở giết mổ gia công ở huyện Bình Chánh, TP.HCM

Theo chi cục Thú y TP.HCM, trung bình mỗi ngày, đơn vị này ghi nhận có tới trên 100.000 con gia cầm đưa vào thành phố giết mổ, ngoài ra còn có hàng ngàn con heo, trâu bò. Một số lò giết mổ tập trung như An Nhơn, Huỳnh Gia Huynh Đệ, Nam Phong, Vissan hay các cơ sở do tư nhân đầu tư đã được thú y kiểm soát khá chặt nguồn hàng đưa vào. Hai chợ đầu mối phân phối lớn nhất là Bình Điền (quận 8) và Tân Xuân (Hóc Môn), thịt heo đưa vào, xuất ra khỏi chợ đều có giấy chứng nhận kiểm dịch của thú y, do đó, đã loại thải ngay từ nguồn những con gia súc, gia cầm nghi ngờ bị bệnh.

Thế nhưng, do địa bàn giáp ranh với các tỉnh quá rộng, nên ông Phan Xuân Thảo, phó chi cục trưởng chi cục Thú y TP.HCM, thừa nhận thương lái vẫn tìm mọi mánh khoé đưa hàng kém chất lượng vào thành phố nên khó tránh khỏi việc heo lậu, heo chết, heo bệnh, heo bơm nước… có mặt trên thị trường, dù không nhiều.

Thực phẩm không sạch thâm nhập thành phố bằng nhiều con đường, có khi được chở trên xe gắn máy, ôtô, xe buýt, thậm chí đưa thẳng vào lò mổ, chợ đầu mối rồi trộn lẫn với thịt sạch để bán đến tay người tiêu dùng. Đồng Nai là địa phương cung cấp heo, gia cầm lớn nhất cho TP.HCM. Riêng thịt heo lên đến 40% nhu cầu. Thế nhưng, theo cơ quan thú y địa phương này, tình trạng giết mổ gia súc lậu vẫn diễn ra khá phổ biến, chiếm đến 50% sản lượng thịt cung cấp hàng ngày. Ông Hoàng Sơn Hải, chi cục trưởng chi cục Thú y Đồng Nai, cho biết do lực lượng thú y còn mỏng nên không thể quản lý xuể hoạt động giết mổ và kinh doanh heo lậu, heo chết trên địa bàn địa phương này. Và như vậy, việc có đến 50% lượng gia súc giết mổ lậu, nằm ngoài vòng kiểm soát của cơ quan thú y, trong đó không loại trừ thịt kém chất lượng vẫn có thể tuồn vào TP.HCM, bán đến tay người tiêu dùng.

Để tránh ăn phải thực phẩm dơ, cơ quan thú y khuyến cáo người tiêu dùng nên mua thịt có nguồn gốc rõ ràng. Thế nhưng, một con heo hay con gia cầm bệnh, cho dù thịt có thâm tím, lốm đốm đỏ, kể cả bốc mùi hôi, thì khi nó được “nguỵ trang” trộn lẫn với thịt sạch, bán chung một quầy thì người mua cũng khó nhận ra. Bà Đinh Thị Hồng Hạnh, trưởng trạm thú y huyện Bình Chánh, đơn vị thường xuyên phải đối mặt với thực phẩm dơ từ các tỉnh miền Tây đưa về còn thừa nhận, khi thực phẩm dơ đưa vào bếp ăn công nghiệp, quán cơm, nấu chín đun sôi lên thì người sử dụng chẳng thể nhận ra. “Nếu heo bị bơm nước, khi nấu miếng thịt sẽ tóp lại, nước ra nhiều, không có mùi vị”, bà Hạnh nói.

Liên Hiệp Quốc sẽ xét đơn khiếu kiện

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER - Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc gửi thư xác định đã nhận, và sẽ cứu xét, hồ sơ khiếu kiện về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống.” Ðơn khiếu nại do Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam gửi cho Hội Ðồng ngày 14 Tháng Năm, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng, đại diện ủy ban, xác nhận với Người Việt tin này. Ông Hùng cũng trao cho Người Việt bản chụp lá thư do chủ tịch Hội Ðồng Nhân Quyền (chief of Human Rights Council Branch), Eric Tistounet, gởi cho ông hôm 3 Tháng Tám, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng cho biết, sau nhiều tháng nghiên cứu, ủy ban xúc tiến việc nộp đơn khiếu kiện các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội, và đã đệ nộp đơn này theo thủ tục khiếu nại của Hội Ðồng. Thủ tục này được thiết lập theo Nghị Quyết 5/1 hồi năm 2007, nay được biết với tên gọi Thủ Tục 1503.

Từ Canada , Luật Sư Lâm Chấn Thọ, chuyên viên nghiên cứu về thủ tục pháp lý của ủy ban, cho Người Việt biết: “Ðây là bước đầu tiên của một thủ tục kéo dài mà tất cả những đơn khiếu nại về vi phạm nhân quyền của một quốc gia phải trải qua.”

Cũng theo Luật Sư Thọ, một quốc gia được xem là “vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống,” khi họ “vi phạm một công việc nhiều lần hoặc là vi phạm trầm trọng, chẳng hạn bắt bớ người không có lý do, bắt bớ nhiều người giam giữ lâu ngày mà không do một tòa án xét xử, hoặc là thủ tiêu người, hoặc là tra tấn tù nhân...”

Thư hồi đáp của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cho biết sẽ tiếp tục thông báo cho ủy ban biết kết quả đơn khiếu nại qua những chặng kế tiếp.

Sân golf “chiếm” đất vàng, đền bù rẻ mạt ?

Cập nhật lúc 22:16, Chủ Nhật, 30/08/2009 (GMT+7)
,

- Đền bù chưa xong, bỏ hoang đất công trong thời gian dài...nhưng sân golf An Phú (quận 2) lại liên tục xin "điều chỉnh quy hoạch" tăng số nền biệt thự nhằm mục đích kinh doanh.

Dự án tư nhân, áp giá “bèo” (?)

Tháng 1/2001, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Sài Gòn (viết tắt là SDI) được Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng trên 139 ha đất tại phường An Phú, quận 2 để đầu tư xây dựng Khu liên hợp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở (sau đây gọi tắt là sân golf An Phú – P.V)

Dự án sân golf An Phú sau đó được UBND.TP điều chỉnh lại cơ cấu sử dụng đất, diện tích còn lại là 137,4 ha (trong đó đất sân golf 100,4 ha; đất xây dựng nhà ở - biệt thự : 22 ha; đất giao xây khu tái định cư, dân cư: 15ha)

Mặc dù có vị trí “vàng” tại khu vực quận 2, TPHCM nhưng tới nay dự án vẫn ì ạch triển khai do vướng đền bù giải toả. Cuối năm 2008, số hộ bị ảnh hưởng là 312 hộ, chi trả bồi thường cho 200 hộ, diện tích 80,47 ha, đạt 57,56%.

Sân golf An Phú hiện vẫn chưa thực hiện xong đền bù giải tỏa..
Nguyên nhân khiến dự án gần 9 năm sau cấp phép “chôn” hàng trăm ha đất nông nghiệp là do giá đền bù quá thấp và cứng nhắc trong áp dụng. Giá đất nông nghiệp được “áp” tại dự án này là 150 – 200 nghìn đồng/m2 (theo phương án phê duyệt năm 2003), trong khi giá bồi thường dự án công ích (làm đường) tại khu vực quận 2 hiện nay cũng đã lên tới 1,5 triệu đồng/m2/đất nông nghiệp.

Điển hình là hộ ông Đặng Hoài Ký, nhận được quyết định bồi thường, hỗ trợ của UBND quận 2 cho diện tích đất trên 1.000 m2 với số tiền 151 triệu đồng và “quyền” được đăng ký mua căn hộ chung cư. Ông bức xúc: “Năm 2008 mới có quyết định bồi thường cho gia đình tôi, nhưng lại áp giá đền bù theo phương án từ năm 2003 là hết sức vô lý. Thử hỏi với 7 nhân khẩu, gia đình tôi sống ra sao với số tiền ít ỏi trên…”

Muốn bồi thường thêm cho dân cũng…tắc

Tháng 11/2005, UBND quận 2 có công văn gửi SDI đề nghị “tự thương lượng thoả thuận sang nhượng trực tiếp với các hộ dân có đất, vật kiến trúc, hoa màu trong dự án”. Tuy nhiên, ý kiến rất “thoáng” này của quận 2 gặp phản ứng gay gắt của Sở tài chính TPHCM tại công văn số 10442 /TC ngày 19/12/2005 khi cho rằng “..đề nghị này không phù hợp với quy định của pháp luật…Việc cho phép chủ đầu tư thương lượng…sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án đầu tư của Nhà nước trong khu vực quy hoạch này…”

Tương tự, gia đình ông Đỗ Văn Dậu (ngụ tại quận 1) có 1.015 m2 đất cũng được bồi thường ở mức 308 triệu đồng. Ông Dậu đã có đơn khởi kiện UBND quận 2 ra Toà hành chính (TAND.TPHCM) về việc ban hành quyết định áp giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại, cưỡng chế thu hồi đất không đúng quy định pháp luật…

Trong đơn gửi VietNamNet, nhiều hộ dân khác cùng chung bức xúc: “Giá đền bù và giá cả thị trường trong gần 9 năm qua thay đổi chóng mặt nhưng UBND quận 2 cùng chủ đầu tư vẫn đền bù theo khung giá cũ, bỏ qua các quy định mới của UBND.TP, của Chính phủ”

“Đây là dự án với những hạng mục, công trình đầu tư của một số cá nhân nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận từ các dịch vụ thể thao cao cấp, xây biệt thự cho thuê, phân lô bán nền không phục vụ cho cộng đồng người dân mà lại áp giá đền bù theo Nghị định 22/CP năm 1998 quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…là hết sức phí lý”

Về mức giá đền bù, trả lời VietNamNet, đại diện phía chủ đầu tư công ty SDI xin không bình luận, mà cho rằng trách nhiệm của chủ đầu tư là cung cấp tài chính, còn việc giải toả đền bù đã được UBND.TP giao cho địa phương ?

Tuy nhiên lý giải này mâu thuẫn với điều 8 - Bản chấp thuận đầu tư (do Sở kế hoạch & Đầu tư cấp ngày 7/12/2000) ghi rõ công ty SDI: “Thông qua chính quyền địa phương để đền bù cho dân theo thoả thuận” và “…có trách nhiệm phối hợp với các Sở - ngành chức năng có liên quan để thực hiện việc đền bù nhằm bảo đảm quyền lợi cho dân”

Trên thực tế, theo phản ảnh của người dân, trong gần 9 năm qua, chỉ có 1 cuộc họp duy nhất giữa Ban bồi thường giải phóng mặt bằng với người dân, chưa từng có một cuộc thương lượng, thoả thuận nào như trong phương án mà UBND quận 2 và chủ đầu tư “hứa hẹn” ?

Đằng sau “điều chỉnh quy hoạch” là…nền biệt thự ?

Một đại diện có trách nhiệm của công ty SDI cho rằng có nhiều nguyên nhân “khách quan” khiến dự án liên tục phải điều chỉnh quy hoạch (việc xử lý nợ của công ty Việt Hà, UBND.TP giao làm khu tái định cư – dân cư 15 ha..) và các thủ tục hành chính “nhiêu khê” từ các cơ quan hành chính khiến dự án không thể triển khai như mong muốn…

Tuy nhiên trên thực tế, chính công ty SDI đã liên tục “đề xuất” việc điều chỉnh quy hoạch theo theo hướng có lợi cho họ. Đó là việc liên tục xin tăng tăng số nhà biệt thự trong khu quy hoạch 22 ha từ 50 căn lên tới 100 căn, 164 rồi 193 căn và xây dựng hàng loạt nhà liên kế, chung cư cao tầng.

Cụ thể, tháng 1/1999, UBND.TP có công văn 329 cho công ty TNHH Thiên Hải (công ty mẹ của SDI) đầu tư sân golf tại khu Rạch Chiếc, quận 2, trong đó quy định “ngoài khu sân golf, chủ đầu tư được xây dựng không quá 50 biệt thự..”

Tiếp đó, tại quyết định số 4530 ngày 12/7/2000 của UBND.TP cũng nói rõ chủ đầu tư – công ty SDI được xây dựng khu biệt thự 50 căn và không cao quá 3 tầng (12m), mật độ xây dựng tối đa 30%.

Tháng 1/2001, Thủ tướng Chính phủ có quyết định cho phép SDI thực hiện dự án Khu liên hiệp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở phường An Phú, quận 2, trong đó yêu cầu UBND.TP có trách nhiệm: “…Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng đất, kiến trúc xây dựng và bảo vệ môi trường theo đúng quy định hiện hành”

Ngay sau đó công ty SDI có công văn đề nghị UBND.TP cho “điều chỉnh” số lượng biệt thự trong dự án từ 50 căn lên thành 100 căn. Việc này được UBND.TPHCM chấp thuận vào thời điểm tháng 5/2001 và đề nghị công ty liên hệ cơ quan chức năng điều chỉnh dự án.

Thế nhưng chính SDI lại “quên” luôn việc điều chỉnh quy hoạch như tinh thần công văn “cho phép” của TPHCM mà kéo dài tới tháng 4/2006 để ra một công văn khác (số 03 ngày 14/4/2006) cho rằng “chỉ tiêu xây 50 căn biệt thự trên phần đất đã giao 22 ha như dự kiến ban đầu sẽ gây nên một sự lãng phí tài nguyên rất lớn, chi phí xây dựng cao, chắc chắc sẽ giảm sức cầu – gây ảnh hưởng lớn đến tính khả thi của dự án”. Đồng thời SDI “mạnh dạn” xin “điều chỉnh quy hoạch” lên thành 193 biệt thự và căn hộ liên kế vườn cao cấp ?

Có vẻ vẫn chưa ổn, chưa đầy 1 tháng sau (tháng 5/2006) công ty SDI lại ra công văn “đề xuất ” xin UBND.TPHCM điều chỉnh quy hoạch nhằm “chi tiết hoá” phần bất động sản tại khu dự án 22 ha. Cụ thể, thay vì 193 căn biệt thự như đề xuất, công ty rút lại còn 164 căn (diện tích từ 600- 2000m2/căn, 1- 2 tầng), nhưng “cụ thể hoá” số nhà liên kế sân vườn lên 29 căn (200m2/căn, 3 tầng) một khu căn hộ cao tầng (132 căn). Tổng cộng có 325 hộ gia đình với diện tích sàn xây dựng lên tới 102.540m2.

Gần 1 năm sau (tháng 4/2007) kiến nghị của SDI được Sở quy hoạch kiến trúc TPHCM trình UBND.TP xem xét và ngày 08/01/2008, văn phòng HĐND và UBND.TP ra thông báo chấp thuận phương án đề xuất điều chỉnh của Sở, cho phép SDI điều chỉnh cơ cấu sự dụng đất và quy mô dân số tại khu 22 ha nêu trên.

Như vậy, rất dễ hình dung, dự án sân golf An Phú của SDI kéo dài một phần do chính công ty này điều chỉnh qua lại phần 22 ha, nhằm tăng số biệt thự, nhà ở nhằm nhắm tới mục đích lợi nhuận trong kinh doanh địa ốc

Hậu quả là dự án bị kéo dài thời gian, cả trăm ha đất bị bỏ hoang.Người dân phải nhận khoản đền bù ít ỏi, khác xa giá trị thật của mảnh đất họ đang quản lý, sử dụng..

  • Thái Thiện – Thu Lý


Sunday, August 30, 2009

Doanh nghiệp bỏ mặc, người lao động kêu trời


Lao Động số 193 Ngày 28/08/2009 Cập nhật: 9:26 AM, 28/08/2009
NLĐ tập trung tại cổng trụ sở Vinamoto-Traco để đòi tiền.
(LĐ) - Trong những ngày qua, hàng chục LĐ tại các tỉnh thông qua Cty Vinamoto-Traco đăng ký làm thủ tục đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) tại CH Czech từ tháng 12 năm 2007, nhưng đến nay vẫn chưa được xuất cảnh đã tập trung tại trụ sở của Cty tại 609 đường Trương Định (Hà Nội) để đòi tiền đặt cọc, nhưng đã không nhận được sự hợp tác của lãnh đạo Cty.

Nộp tiền vào thì dễ...

Theo anh Nguyễn Văn Lịch - trú tại Thường Tín, Hà Nội - thì tháng 10.2007, thông qua giới thiệu của Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên, Tỉnh đoàn Hà Tây (cũ), anh đến Trung tâm XKLĐ của Cty Vinamoto-Traco địa chỉ tại NVC10 khu đô thị Trung Hòa, Nhân Chính, Hà Nội, để đăng ký đi xuất khẩu lao động tại CH Czech. Sau khi đăng ký, anh và nhiều LĐ đã được hướng dẫn làm hồ sơ, đồng thời được học tiếng và học nghề trong thời gian 3 tháng với số tiền học phí là 2.050.000 đồng/học viên và phải đặt cọc số tiền 16.030.000 đồng (tương đương với 1.000USD).

Theo hợp đồng ký kết giữa Vinamoto-Traco và NLĐ, để được xuất cảnh sang lao động tại CH Czech, mỗi LĐ phải nộp cho Cty 9.200USD cho các khoản chi phí như: Vé máy bay, lệ phí sân bay, visa, phí môi giới, tiền đặt cọc chống trốn và quỹ hỗ trợ rủi ro... Sau khi hoàn thành khóa học và đặt cọc tiền, NLĐ đã được ông Lê Quang Dực - GĐ trung tâm - cho biết đã hoàn tất thủ tục để sang làm việc tại Cty Daikin của CH Czech với thời hạn 3 năm và sẽ xuất cảnh trong vòng 4-6 tháng tới. Nếu không xuất cảnh được thì NLĐ có quyền rút hồ sơ và tiền đã nộp cho trung tâm, được trả lãi theo lãi suất của ngân hàng.

Do chờ mãi không được xuất cảnh, một số LĐ đã liên hệ với ông Dực và được ông Dực cam kết nếu hết tháng 10.2008 Cty không xác định được lịch bay cho NLĐ, thì sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền mà NLĐ đã nộp cho Cty. Để hoàn tất hợp đồng một cách nhanh chóng, trong vòng 1 tuần (từ 12-20.5.2008) NLĐ phải nộp cho Vinamoto-Traco 3.500USD thì bản cam kết mới có tác dụng.

Để có tiền nộp, nhiều LĐ phải đi vay ngân hàng hoặc vay với lãi suất cao bên ngoài để có tiền nộp cho Cty. Tuy nhiên, khi nộp tiền NLĐ chỉ được Cty ghi giấy biên nhận chứ không có hóa đơn thu tiền.

Gần 2 năm chờ đợi và đi đòi nợ, NLĐ đã nhận được câu trả lời của GĐ Cty Lê Quang Dực là Cty hết tiền nên không thể trả NLĐ.

... đòi tiền lại quá khó


NLĐ đã làm đơn kêu cứu gửi lên Cục Quản lý LĐ ngoài nước (Bộ LĐTBXH) và PC15 - CA TP.Hà Nội nhờ can thiệp giúp đỡ, nhưng phía Cty vẫn chưa có trả lời chính thức với NLĐ. Quá bức xúc, từ ngày 24.8 nhiều LĐ đã tập trung tại trụ sở Cty để đòi nợ và đã được ông Đoàn Mạnh Cường - GĐ mới của Cty - tiếp.

Ông Cường cho biết, hiện tại ông Dực chưa bàn giao hết nên phải chờ khi nào bàn giao hết thì Cty sẽ có kế hoạch trả tiền cho NLĐ. Tuy nhiên, NLĐ không chấp nhận với đề nghị đó.

Chiều 25.8, toàn bộ Cty đóng cửa không làm việc, bỏ mặc NLĐ chầu chực bên ngoài. Anh Đỗ Văn Nguyên - quê ở Duyên Hải, Hưng Hà, Thái Bình - bức xúc cho biết thêm: Chỉ trong vòng một thời gian ngắn mà Cty đã chuyển đến 3 địa điểm khác nhau, nhưng không hề có thông báo với NLĐ. Chúng tôi chia sẻ khó khăn, nhưng Cty hứa hẹn vòng vo đã làm NLĐ mất lòng tin".

Để tìm hiểu rõ vấn đề, PV Báo Lao Động đã liên lạc với ông Lê Quang Dực, nhưng tất cả những số điện thoại mà NLĐ cung cấp đều tắt máy. Phần lớn những LĐ đi XKLĐ đều là những LĐ nghèo, phải vay mượn mới đủ tiền nộp cho Vinamoto-Traco với hy vọng sau vài năm LĐ tại nước bạn về có một lưng vốn để cải thiện kinh tế gia đình. Nhưng đến nay, sự đổi đời chưa thấy đã thấy nợ nần chồng chất.

Đặng Tiến

Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty