RFA 28.04.20112011-04-28Sân bay Thanh Hóa tại khu vực bắc trung bộ sẽ được xây dựng tại xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia với tổng số vốn hơn 2600 tỷ đồng. Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cho biết kế hoạch vừa nêu nằm trong qui hoạch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của ngành. Và cụ thể Sân bay Thanh Hoá sẽ nằm dọc bờ biển, cách trung tâm thành phố Thanh Hoá khoảng 30 kilômét về phiá nam, cách quốc lộ 1A khoảng 1,3 kilômét. Sân bay sẽ được xây dựng theo hai giai đoạn. Giai đoạn đầu dự kiến sẽ có các tuyến bay đi Gia Lâm, Cát Bi, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất. Lượng hành khách mỗi năm cho giai đoạn đầu ước tính 250 ngàn và 10 ngàn tấn hàng hoá. Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved. |
| TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG |
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn
Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure
Search This Blog
Friday, April 29, 2011
VN chi 2600 tỷ đồng xây sân bay Thanh Hóa
Khiếu kiện đất đai bị bắt giam ở Bắc Giang
Mặc Lâm, biên tập viên RFA2011-04-28Ngày 27 tháng 4 một nhóm dân oan thuộc nhiều huyện của tỉnh Bắc Giang kéo đến trước trụ sở Ủy Ban Nhân dân tỉnh đòi giải quyết tình trạng đất đai của họ và bị công an tỉnh Bắc Giang bắt giam. Photo courtesy of viettan.org Dân oan khắp nơi kéo về HN khiếu kiện về đất đai, ảnh minh họa. Mặc Lâm phỏng vấn ông Đinh Xuân Nhượng, một dân oan có mặt trong vụ đòi hỏi đền bù đất đai này để biết thêm hoàn cảnh của những người bị bắt cũng như tình trạng tranh chấp đất của một số huyện thuộc tỉnh Bắc Giang ra sao. Đi khiếu kiện, bị bắt giam?Trước tiên ông Nhượng cho biết vụ việc xảy ra cụ thể như sau: Trường hợp dân oan trong toàn tỉnh trong trường hợp này của chúng tôi trong nhiều huyện trên địa bàn Bắc Giang, người ta tập trung về thành phố Bắc Giang chỗ Ủy ban nhân dân tỉnh và sang bên chỗ tỉnh ủy Bắc Giang. Trong trường hợp này thì có trường hợp chị Phạm Thị Hòa chị Hòa năm nay 58 tuổi, chị đi đòi quyền lợi đất đai chị Hòa ở phố Hoàng Hoa Thám thị trấn Cao Thượng huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Kèm theo nữa là chị Nguyễn Thị Thanh, chị Thanh ở Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang. Chị Phạm Thị Sửu thì ở Bản Chàm, Tam Tiến, Bắc Giang. Riêng chị Sửu thì trong thời gian son trẻ chị đã hết lòng với đất nước. Chị từng là chiến binh Việt Nam sang Lào. Người có công thì hiện giờ chính quyền người ta đối xử chẳng đâu vào đâu cả. Kèm theo nữa là chị Nguyễn Thị Hằng chị này ở thị trấn Lưới, Chị Ngô Thị Ngát ở xã Lĩnh Thượng, Minh Đức. Việt Yên, Bắc Giang. Bây giờ năm người này đã bị bắt còn lại chúng tôi thì đi đòi quyền lợi cũng không được công an người ta thậm chí là đánh đập. Ngày hôm nay là ngày các chị đi đòi quyền lợi ôn hòa nhưng bị bắt và nhốt vào đồn công an. Hiện giờ phút này chuyển từ một cái buồng rộng sang một cái buồng nhỏ. Còn trường hợp của chị Thanh thì bị công an đánh bây giờ sưng hết cả mắt mũi và cũng không đuợc đi điều trị chẳng được ăn uống gì cả. Mặc Lâm: Xin ông cho biết khi năm người này bị công an tỉnh bắt giam thì ông đang làm gì và có dính líu gì tới việc đòi hỏi đền bù đất hay không? Ông Đinh Xuân Nhượng: Hôm nay tôi cũng là người đi đòi quyền lợi về đất đai tôi cũng có mặt ở khu đó. Lúc họ bị bắt thì tôi đang ở chỗ tiếp dân của Ủy ban Nhân Dân tỉnh lúc bấy giờ mọi người đang ở chỗ tỉnh ủy thì bị bắt. Trong trường hợp dân oan của chúng tôi đến mức độ tổng cộng trên toàn quốc thì tôi cũng được biết số lượng nó cũng không còn nhỏ nữa. Chắc các anh thừa biết hiện nay cái lượng dân oan trên toàn quốc trong đó có tôi và 5 người đang bị bắt giam tại đồn công an thành phố Bắc Giang… Mặc Lâm: Ông có thể kể chi tiết về trường hợp đòi hỏi đền bù đất đai của gia đình ông cụ thể ra sao hay không? Ông Đinh Xuân Nhượng: Trong trường hợp của chúng tôi thì đất do ông cha để lại cũng cải tạo từ đất hoang sau đó nhà nước nhờ làm trạm xá, Ủy ban. Sau đó thì trường học tiếp quản lại của trạm xá của Ủy ban mà không có một giấy tờ gì nói về miếng đất mặc dù nhờ vào gia đình nhà tôi. Cho đến giờ phút này thì từ đời bố tôi đến chúng tôi cũng không có. Chiếu theo luật đất đai thì phải trả lại công khai phá khi chính quyền trưng thu. Thế thì chính quyền trung ương cũng như địa phương, tôi có cả văn bản đến ông Nguyễn Tấn Dũng mà do ông ấy làm thủ tướng ông ấy bận quá không có thời gian để trả lời, thế thì nó ỉm đi thậm chí đạp xuống. Đòi hỏi sự công bằngMặc Lâm: Trong trường hợp nhà nước trưng thu đất để xây dựng các công trình công cộng như là trường học chẳng hạn thì rõ ràng là có lợi cho người dân … xin ông cho biết ý kiến của ông có chấp nhận giao đất cho nhà nước hay không? Cảnh người dân trong một lần khiếu kiện đất đai ở HN. Trong buổi đối thoại đó gồm có cả bà Lữ là Hội đồng Nhân dân, thường trực Hội đồng Nhân dân có cả đoàn đại biểu Quốc Hội. Ông chủ tịch Khoa hứa là sẽ giải quyết và có đầu tư thời gian, đầu tư con người cho đến phút này thì không thấy nó đâu cả. Mặc Lâm: Sau khi gặp gỡ các nhân vật cao cấp như vậy thì kết quả ra sao? Ông Đinh Xuân Nhượng: Sau cái ngày đối thoại trường hợp của tôi thì ông Khoa cũng mất chức mất quyền vì cái vụ người ta đem một cái xác chết của ông công an ổng đập chết, người ta mang lên giao cho ông Nguyễn văn Khoa giao cho chủ tịch tỉnh để chôn cái xác chết đó bởi vì chính bên nhà nước gây nên thì nhà nước phải chịu trách nhiệm. Vì vậy trường hợp của tôi cũng chìm luôn. Mặc Lâm: Quay trở lại trường hợp của 5 người bị bắt giam hôm nay ông có suy nghĩ gì về hành động giam giữ người của công an thưa ông?
Ông Đinh Xuân Nhượng:Theo đúng chính sách của nhà nước theo điều 15-16 của bộ luật tố tụng dân sự thì người ta không phạm tội gì cả. Người ta không quấy nhiễu không làm ảnh hưởng đến ai. Việc bắt này tôi cho là một đợt khủng bố chuẩn bị cho đợt bầu cử tới đây. Mặc Lâm: Trong câu chuyện ngày hôm nay nếu phát thanh về Việt Nam thì ông có ngại khi chúng tôi nêu tên tuổi của ông lên hay không? Ông Đinh Xuân Nhượng: Tôi cũng là một trong những người dân oan và tôi tên là Đinh Xuân Nhượng. Trong trường hợp này một khi tôi đã là người mất quyền lợi thế thì chính sách nhà nước là tự do ngôn luận, các anh cứ đưa thoải mái chúng tôi đang cần phải nhờ kể cả ở Việt Nam đến bây giờ người ta quân phiệt đi chăng nữa thì chúng tôi không còn gì để mất. Người làm luật ở Việt Nam bây giờ người ta dày xéo dẫm lên cả pháp luật. Trong điều kiện đất đai thì người dân lao động chúng tôi đất đai của chúng tôi bị chính quyền, nhà nước này người ta cướp hết. Mặc Lâm: Xin cám ơn ông Đinh Xuân Nhượng về cuộc phỏng vấn này. Theo dòng thời sự:Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved. |
Bắt Nguyễn Công Chính về tội "phá hoại chính sách đại đoàn kết"
Ngày 28-4, Công an tỉnh Gia Lai đã thi hành lệnh bắt và tạm giam Nguyễn Công Chính về tội "phá hoại chính sách đại đoàn kết", tiến hành khám xét nơi ở và thu giữ được nhiều tài liệu có nội dung tuyên truyền chống chính quyền nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Trước đó ngày 8-4, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Công Chính về tội "phá hoại chính sách đại đoàn kết" theo điều 87 Bộ luật hình sự. Bước đầu, Nguyễn Công Chính đã thú nhận hành vi phạm tội của mình.
Nguyễn Công Chính có tên gọi khác là Nguyễn Thành Long, sinh năm 1969, hiện sinh sống tại tổ 10, phường Hoa Lư, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Từ năm 2003 đến nay, Nguyễn Công Chính thường xuyên tham gia trả lời phỏng vấn các báo, đài nước ngoài, thu thập và phát tán trên mạng Internet nhiều tài liệu có nội dung chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ giữa các dân tộc, chia rẽ các tín đồ tôn giáo.
Nguyễn Công Chính đã cấu kết với các đối tượng như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy...để hoạt động chống chính quyền nhân dân, tuyên truyền sai sự thật và kích động, tham gia tổ chức khiếu kiện đông người, vượt cấp ở nhiều nơi...
Những tài liệu thu được trong quá trình hoạt động của Nguyễn Công Chính, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Gia Lai đã trưng cầu giám định của Tư pháp tỉnh Gia Lai, Viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an, khẳng định: Nguyễn Công Chính làm ra các tài liệu có nội dung tuyên truyền gây chia rẽ giữa chính quyền, lực lượng công an với quần chúng nhân dân; chia rẽ giữa quốc gia dân tộc Việt Nam với các nước trên thế giới nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Phát hiện việc làm của Nguyễn Công Chính là vi phạm pháp luật, chính quyền địa phương đã nhiều lần vận động, thuyết phục, giáo dục nhắc nhở và đưa ra kiểm điểm trước dân. Song trên thực tế, Nguyễn Công Chính với bản chất ngoan cố, phản động không chấp hành pháp luật mà vẫn cố tình gia tăng hoạt động nhằm chống lại chính quyền nhân dân cả về phạm vi, quy mô lẫn mức độ.
TTXVN
Thursday, April 28, 2011
QUỐC HẬN 30 THÁNG 4 - Phần 10 - 11 : 16 TẤN VÀNG - NGÂN HÀNG QUỐC GIA - THẢM SÁT BA CHÚC (18 THÁNG 4 - 1978) Tỉnh An Giang
Phần 11 : THẢM SÁT BA CHÚC (18 THÁNG 4 - 1978) Tỉnh An Giang
TỪ THẢM SÁT DÂN HUẾ 1968
ĐẾN THẢM SÁT DÂN LÀNG BA CHÚC 1978
Việt cộng Thảm sát 3157 đồng bào Làng BA CHÚC ,Tỉnh An Giang
Đêm 18 Tháng 4 1978
Nếu thật sự có quân Khmer Rouge tàn sát dân Việt từ ngày 18 tháng 04 cho đến ngày 29 tháng 04 năm 1978,thì tại sao các đơn vị của sư đoàn 330 đang đảm nhiệm việc thành lập tuyến phòng thủ và trấn đóng tại huyện Tri Tôn (làng Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn), lại không thể nghe hay phát hiện ra biến cố trong đêm 18 tháng 04 năm 1978.???
Ai đã ra lệnh tập trung tất cả 3.157 thường dân vào trong các chùa và trường học.??? Để bắn giết tàn sát hàng loạt dân làng Ba chúc???
Điều nầy khác hẳn với phương thức giết người theo kiểu “Cáp-Duồng” của người Miên, nghiã là tàn sát dân Việt Nam tại chổ, gặp đâu giết đó.
Đã là có ít nhất 2.000 tiếng đạn phát nổ đã được bắn xả vào dân trong đêm tối ..!!
Bản Đồ Ba Chúc và Doanh trại Sư Đoàn 330 (Xem tỉ lệ khoảng cách)
Vết máu của các nạn nhân văng tung tóe trên tường
Tiếng súng AK47 nỗ rất chát chúa “bắkk..bắkk..bắkk..” làm sao những bộ đội sư đoàn 330 lại không nghe,không biết được khi những tiếng súng AK47 nỗ một cách ghê rợn trong đêm trường vắng lặng.
Có hơn trên 2.000 tiếng súng và tạc đạn nổ phát trong đêm vắng mà phải đợi tới 12 ngày sau bà HTN mới được cứu sống ???
-Theo tài liệu cùng với những nhân chứng địa phương, chính sư đoàn 330 hay còn gọi là sư đoàn 30 đã thực hiện cuộc tàn sát nầy và CSVN đã chọn địa điểm làng Ba Chúc
[CENTER]
Vì sao Việt cộng dã man đã ném đá dấu tay:
Vì nơi đây là nơi phát tích cuả giáo phái “Bửu Sơn Kỳ Hương” do đức Phật Thầy Tây An sáng lập ra và Phật Giáo Hoà Hảo là giáo phái đã được thừa truyền y bát với số tín đồ trên 7 triệu người đã trãi rộng ra khắp miền Tây Việt Nam.
Đúng là sự huyền nhiệm của vùng “Địa Linh Nhân Kiệt Thất Sơn” đã khiến cho bà HTN sống còn để trỡ thành nhân chứng sống.
Với chủ đạo “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” bao gồm:
Ân Tổ Quốc. Ân Thầy. Ân Cha Mẹ. Ân Đồng Bào.
Kỳ diệu thay lại phù hợp với chủ đạo Việt tộc trong tôn giáo “Thờ Cúng Ông Bà, Tổ Tiên”.
Nghiã là dưới bộ áo cà sa của “Bửu Sơn Kỳ Hương” lại ẩn tàng một “Gươm Thiêng Bảo Quốc”.
Đây là lý do tại sao cả Trung cộng lẫnViệt cộng tìm cách tiêu diệt giáo phái Phật Giáo Hoà Hảo nầy cho bằng được, kể từ 1939 cho đến ngày hôm nay.
Hành trình Đạo Cao Đài từ 1975 (phần 1 - 4)
Phần âm thanh (1)
Phần âm thanh (2)
Phần âm thanh (3)
Phần âm thanh (4)
Nguyễn Văn Vàng thuật lại câu chuyện thảm sát nói trên.
Ai là thủ phạm của vụ thảm sát tại làng Ba Chúc? Tại sao lại có vụ thảm sát đó?
Con số nạn nhân vô tội gồm toàn phụ nữ và trẻ em tại chùa Phi Lai lên đến bao nhiêu người?
http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn-2.html
* Tài liệu trích từ James Pringle International Herald Tribune.
http://www.iht.com/bin/print_ipub.php?file=/articles/2004/01/07/edpringle_ed3_.php
Trong phần tài liệu cuả James Pringgle nấy có những dữ kiện sau đây đã tạo thành nghi vấn:
Có 2 người con gái rất đẹp“Chinese beauties, từ ngữ cuả James Pringle” đi cùng với toán quân Khmer Rouge nhưng lại không nói được tiếng Việt lẫn tiếng Khmer Rouge. Điều chắc chắn là 2 người con gái nầy không xuất xứ từ Miên vì Pol Pot đã tàn sát hấu hết những người dân trong vùng.
-Tất cả nạn nhân đều bị bắn chết trong chùa và trường học, riêng bà H.T.N. lại bị bọn Khmer Rouge mang cả gia đình đi về phiá biên giới Việt-Miên rồi mới giết.
-Người con gái của bà HTN bị đập vào đầu 3 lần bằng báng súng (James Pringle dùng từ ngữ “struck”) cho thấy sự tàn nhẫn cuả toán người nầy.
Điều nầy khác với phương thức giết người theo kiểu “Cáp-Duồng” của người Miên, nghiã là tàn sát dân Việt Nam tại chổ, gặp đâu giết đó.
Tuy nhiên bà H.T.N may mắn vẫn còn sống và được quân CSVN "cứu" sau 12 ngày đêm bị thương!!! (Trích tài liệu cuả ông Nguyễn Vỉnh Long Hồ)
- “Mở Lại Hồ Sơ CSVN Thảm Sát Đồng Bào Làng BA CHÚC, Tỉnh Anh Giang Đêm 18-04-1978.”
Qua bài viết nầy chúng tôi cố gắng giải đáp một nghi vấn là:
Ai đã giết chết 3.157 mạng người dân làng Ba Chúc vô tội?
1) Miên cộng (Khmer Rouge) Polpot đã ra tay tàn sát dân lành ?
Hay:
2) Tình báo cục Đông Dương của Trung Cộng điều hành cuộc tàn sát đã nói qua bàn tay của bộ chính trị CSVN, những quan thái thú TC hiện đang ngự trị trên đầu dân chúng Việt Nam thừa lệnh thiên triều TC để thi hành việc dâng đất, dâng biển Việt Nam cho TC? Qua các cơ quan có tên là TC2, T4 ???
Mọi người ai cũng hiểu là CSVN đã chịu rất nhiều áp lực từ phía TC vì thế nên phải lép vế đi theo chỉ đạo của TC, tuy nhiên cho đến nay không ai trong đất nước Việt Nam có một thái độ khẳng định dứt khoát là bộ chính trị CSVN chính là một hệ thống thái thú hiện đại của TC đặt tại Việt Nam, từ bộ chính trị xuống tới làng xã .
Đây là “mấu chốt vấn đề” cho cả một dân tộc thế mà không một ai trong đất nước Việt Nam dám nhìn nhận cái sự thật nầy.
Trong bài viết của giáo sư Lâm Lễ Trinh về trận chiến Hoa Việt cho thấy nguyên nhân của cuộc chiến là do sự tranh dành ảnh hưởng của hai phe thân Nga cộng và Tàu cộng . Rất đúng. Điều nhận xét của giáo sư Lâm Lễ Trinh và nhận xét của cả công luận báo chí trên thế giới rất đúng.
Tuy nhiên có một vấn đề mà cho đến nay chưa một ai hay những tác giả của những bài báo nêu lên hay đào sâu vào, đó là vấn đề :
“Tình báo chiến lược Đông Dương của Trung cộng”
Liệu phe CSVN thân Nga có thật sự theo Nga cộng hay không ? hay chỉ là trá hình theo Nga để thu nhận tin tức tình báo cùng những tài liệu kỷ thuật của Nga rồi chuyển về cho TC để TC có thể hiện đại hóa quân sự và tiến hành mộng bành trướng của TC?
Trong quyển sách “Một Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung đã cho chúng ta thấy rõ điều nầy là tình báo CSVN chỉ hoạt động có lợi cho Trung Cộng mà thôi.
Dưới đây là những dữ kiện của cuộc thãm sát 3.157 thường dân Việt Nam và Khờ-Me (Khmer).
* Tài liệu của ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ.
- Nhà Mồ Ba Chúc được xây dựng giữa chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu được nhà nước CSVN công nhận là “Di Tích Căm Thù” vào năm 1980 để đánh dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Polpot từ ngày 18/04/1978 cho đến ngày 29/04/1978. (Theo tài liệu của CSVN thì Khmer đỏ đã tràn sang biên giới tàn sát dân lành VN từ 18/04/1978 cho đến 29/04/1978.)
- Ngày 18 tháng 04 năm 1978 CSVN đã tàn sát 3.157 mạng người trong các ngôi chùa, trường học tại làng Ba Chúc các biên giới Việt-Miên khoảng 7 km.
The Bone Pagoda. Ba Chúc, Tịnh Biên
Nhà mồ đã được xây theo hình bát giác (8 cạnh cuả bát quái đồ).
Tại sao không xây theo hình tròn, hình vuông, hình chử nhật mà phải là hình bát giác ?
Đây có phải là một phương thức trấn ếm cuả Tàu cộng để triệt tiêu linh khí cuả miền Nam mà đại diện là ngành phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương do đức Phật Thầy Tây An sáng lập và giáo phái thừa truyền là Phật Giáo Hoà Hảo với chủ đạo Tứ Ân.
Đây có lẽ cũng là nguyên nhân chính mà CSVN đã cố tâm tàn sát tất cả những tín đồ cuả Phật Giáo Hoà Hảo trong khu vực miền Tây mà đức thầy Huỳnh Phú Sổ là người đại diện cho tôn giáo nầy.
Một phần khu Thất Sơn trên website dưới đây.
-Theo tiết lộ cuả Hoàng Tùng, uỷ viên bộ chính trị CSVN, bộ chính trị CSVN đã có ý đồ chiếm Cambodge từ năm 1970-1972. (Đây có lẽ là thời điểm mà 2 phe thân CSVN và thân TC đã được thành hình)
-Phe thân Nga gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dủng, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười….
-Phe thân TC gồm: Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng…
-Tháng 09 năm 1975 Sihanouk và Khiêu Samphan, chủ tịch nước Khmer Rouge đến Hà Nội dự lễ quốc khánh cuả CSVN.
Ngày 23 /4/ 2008. Khieu Samphan trước Tòa án Quốc tế với Tội danh Diệt chủng
Ieng Sary trước Tòa án Quốc Tế Ngày 30/6/2008
-Tháng 03 năm 1977 leng Sary, ngoại trưởng Khmer Rouge sang Bắc Kinh. Trong buổi tiếp tân có phó thủ tướng TC Lý Tiên Niệm, tổng tham mưu phó QĐTC Vương Thăng Long.
-Tháng 04 năm 1977, trong buổi tiếp tân tại Toà Đại sứ Cambodge, ngoại trưởng TC Hoàng Hoa công khai tuyên bố: “nước Cambodge đang bị kẻ thù phá hoại và Trung Hoa sẽ sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu chống lại những hành động can thiệp và gây hấn cuả các lân bang”. (Lời tuyên bố nầy đã khơi màu cho cuộc chiến Việt-Trung 1979-1991)
Cambodge tấn công vào những làng, xã và những thị trấn dọc biên giới thuộc tỉnh An Giang, Châu Đốc hai tuần sau, ngay vào ngày CSVN đang ăn mừng “Mùa Xuân đại thắng 1975” (30-04-1977?).
-Ngày 27 tháng 09 năm 1977 Pol Pot tuyên bố vai trò chủ tịch đảng lãnh đạo tổ chức Angka là đảng cộng sản Cambodge. Một ngày sau Pol Pot lên đường đi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng với tư cách là chủ tịch đảng.
POL POT chết ngày 15 tháng 4/1998.
Ba ngày trước (24-09-1977?)chuyến đi, Pol Pot đã ra lệnh cho quân đội Quân Khu Đông tấn công vào Tây Ninh. CSVN không cho quân đội phản công.
-Cách chức tướng tư lệnh “quá khích” Trần Văn Trà!.
(Thay Lê Đức Anh vào để thi hành kế hoạch cuả tình báo Trung cộng là giử quân CSVN, 10-15 sư đoàn tại Cambodge, để Trung cộng rãnh tay tiến chiếm miền Bắc Việt Nam)
(Nhân vật Lê Đức Anh là mấu chốt, xuất xứ cuả cuộc chiến Việt-Trung 1979-1991, cũng để tạo nên những nghi kỵ giửa Việt Nam và Cambodge qua vụ giết oan những cán bộ cuả Cambodge, phe thân VN do TC2 điều khiển.)
-Phan Hiền bí mật sang Bắc Kinh nhờ TC dàn xếp. Không thành công.
TC nhất quyết ủng hộ Cambodge và chở vũ khí, chiến cụ ồ ạt tới cảng KomphongSom.
-Cuối năm 1977, quân đội CSVN tấn công thăm dò vào sâu trong lãnh thổ Cambodge, bị quốc tế lên án nên buộc phải rút quân về ngày 06 tháng 01 năm 1978.
-Đầu tháng giêng năm 1978, sư đoàn 2 và sư đoàn 210 của quân khu tây nam Cambodge đã tấn công và chiếm đóng các xã Phú Cường, Khánh An, Khánh Bình, các huyện Hồng Ngự, Hà Tiên thuộc lãnh thổ quân khu 9 Việt Nam.
-Tướng Trần Nghiêm, tư lệnh phó cuả Lê Đức Anh, được đề bạt làm tư lệnh quân khu 9 điều động các sư đoàn 4, 8, 330 cùng với 2 trung đoàn cơ động cuả hai tỉnh Hậu Giang và Đồng Tháp.
Sư đoàn 341, tư lệnh Vũ Cao, được điều từ quân khu 7 đến tăng phái cho quân khu 9.
Với sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp và với quân số áp đảo 4 sư đoàn: 4, 8, 330 341 cùng 2 trung đoàn cơ động để phản công mà mải tới 2 tháng sau CSVN mới có thể đánh bật sư đoàn 2 và sư đoàn 210 của Cambodge ra khỏi lãnh thổ Việt Nam!.
-Sư đoàn 330 CSVN (chính sư đoàn nầy là thủ phạm tàn sát 3.157 người dân ấp Ba Chúc) trấn đóng huyện Tri Tôn để tạo thành tuyến phòng thủ tại đây.
-Cuộc thanh trừng nội bộ thuộc Quân Khu Đông Cambodge đã xãy ra từ tháng 03 năm 1978 cho tới ngày 24 tháng 05 năm 1978 khiến cho sư đoàn 4 cuả Cambodge bị xoá sổ, những sư đoàn 3, 5, 280 suy yếu dần.
Ngày 18 tháng 04 năm 1978 xãy ra cuộc tàn sát đẩm máu của 3.157 nhân mạng thường dân vô tội, trong đó bao gồm cả dân chúng Việt lẫn Miên trong các ngôi chùa và trường học thuộc làng Ba Chúc.
Cuộc tàn sát đã xảy ra trong khi Quân Khu Đông Cambodge có biến động thanh trừng lẫn nhau, có lẽ giửa hai phe thân Trung Cộng và thân CSVN.!!
Đây quả thật là một sự trùng hợp kỳ cục , !!???
Chuyện bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Khi Lê Đức Anh xuất hiện nhiều trên Chính trường, có một người tên là Hồng đã nhận ra Lê Đức Anh chính là "Viên Cai Anh" ở đồn điền cao su Phú Riềng khét tiếng tàn ác, đã đánh ông mà trên lưng vẫn còn vết sẹo hằn sâu đến bây giờ. Ông đã viết đơn và trực tiếp mang đến Ban tổ chức Trung ương, tố cáo "Lê Đức Anh là cai phu đồn điền, không phải là đảng viên, nhưng đã chui vào Đảng..." ! UB KTTW đã đi điều tra xác minh. Kết quả : Đ/c bí thư chi bộ ở địa phương hồi đó đã khẳng định: "Từ 1938 đến 1945, chi bộ không kết nạp ai và trong chi bộ không có ai tên là Lê Đức Anh" !
Hay đây là một cuộc đấu trí, đấu sức giữa tình báo TC và tình báo CSVN mà Lê Đức Anh làm đạo diễn (dưới bàn tay TC2, T4) qua những vụ án Xiêm Rệp (1983), vụ án Sáu Sứ (1991).
Lê đức Anh 16-6-2008 dự tang Võ văn Kiệt. (Tê liệt sau cơn bịnh bại não)
Tài liệu TC2
Bằng cách giam khoảng 10-15 sư đoàn quân CSVN tại Cambodge, để cho quân TC có dịp tràn sang biên giới phiá Bắc Việt Nam ngày 17 tháng 02 năm 1979 và khởi chiến (cuộc chiến diệt chủng) với 2 quân đoàn Quảng Tây, Vân Nam và sau đó là 7 quân đoàn còn lại cuả TC, thay phiên nhau tấn chiếm suốt dọc chiều dài vùng biên giới phía bắc Việt Nam từ 1979-1991, để rồi bộ chính trị CSVN nhượng lần đất và biển cho TC?!.
-Ngày 15 tháng 06 năm 1978, các sư đoàn 7, 9, 341 cùng các đơn vị yễm trợ đã tràn sang Cambodge và chỉ rút quân về vào cuối năm 1989 (tháng 09/1989, tài liệu “Hồi Ký Trần Quang Cơ”.)
-Ngày 17 tháng 02 năm 1979 chiến tranh Việt – Trung khởi đầu và chỉ chấm dứt sau năm 1991, dẫn đến việc mất những vùng đất biên giới phiá bắc Việt Nam và những vùng biển từ Bắc Bộ kéo dài xuống Trường Sa.
* Tài liệu trích từ “Hồi Ký Trần Quang Cơ”. 1975-1991
“Án Sử Cuộc Chiến Việt – Trung” không thể kết thúc tại đây vì nó quan trọng cho cả dân tộc Bách Việt, mong rằng các bậc thức giả Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhau đi tìm những đáp án cho dân tộc.
http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn.html
http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn-2.html
Chú thích: CSVN đã biết rõ TC sẽ tấn công VN thế nhưng CSVN vẫn giam chết những đơn vị thiện chiến tại chiến trường Cambodge, để cho tiêu hao binh lực, và chỉ phản công khi quân TC đã tràn sang biên giới, để cho TC tiến hành cuộc chiến “genocide” nghiã là “diệt chủng” dân Việt Nam. Mặt trận Lạng Sơn-Cao Bằng, mặt trận Hà Giang, Vị Xuyên với 3.700 tử sỉ đã bị bộ chính trị CSVN bán đứng, Mặt trận Lào Cai-Lai Châu là những bằng chứng cụ thể cho thấy bộ chính trị CSVN đã bán đứng đất nước, bán đứng dân tộc Việt Nam.
Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp anh Tô. Trung Quốc còn lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được vì khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.
Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề bình thường hoá quan hệ. Năm ngày trước – ngày 24.8.90 - Trung Quốc còn bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ý cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ.
Thái độ “thiện chí” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách.
Chú thích: Trong giai đoạn nầy, năm 1990, chiến trận Việt-Trung sắp sửa kết thúc. TC đã chiếm khá nhiều đất cuả Việt Nam và đã buộc CSVN phải chấp nhận lập lại cột mốc biên giới mới. Cũng xin nói rõ là cho đến năm nầy 1990 TC vẫn chưa tháo gở bài mìn dọc theo biên giới Việt-Trung. TC đã không thực hiện đúng như lời tuyên bố với thế giới là gở mìn hoàn toàn, mà chỉ “seal” rào kín khu vực rồi để đó, nghiã là chỉ để bản “Khu Vực Mìn Bẩy Cấm Vào”. Để sau nầy bắt CSVN phải chấp nhận khu vực mìn bẩy nầy là lãnh thổ của TC. Cuộc họp cấp cao tại Thành Đô chỉ với mục đích đó mà thôi.
Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm TBT; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực BCT kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức uỷ viên Trung ương. Còn Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao... (thực ra những thay đổi về nhân sự trong BCT đã được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đã biết).
Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.
Chú thích: Đây là lúc quê hương đang bước vào giai đoạn nguy kịch vì Lê Đức Anh đã, đang và sẽ lũng đoạn đất nước theo chiều hướng dẩn cuả Trung cộng. Kết cuộc là những phần đất và biển đã lọt vào tay Trung cộng một cách êm thấm
Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5.8.91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Hôm sau, Hồng Hà với tư cách Trưởng ban Đối ngoại tiếp Đại sứ Campuchia Ouch Borith, đã thông báo: “Theo sự phân công của BCT Việt Nam, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà sẽ phụ trách việc thảo luận giải pháp Campuchia và các vấn đề liên quan. Nếu lãnh đạo Campuchia muốn bàn các vấn đề trên thì đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó.
Ngày 9.7.91, vừa được bầu làm TBT, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày–ngày 11.6.91 – Bộ Ngoại Giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước. Ngày 17.7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5.8 đến 10.8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp thứ trưởng ngoại giao… Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thoả thuận với cấp đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một thứ trưởng ngoại giao là uỷ viên TƯ đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.
Thời điểm nầy Lê Đức Anh phe đảng và tình báo Trung cộng đã hoàn toàn thống trị đảng CSVN cho đến ngày hôm nay.
QUỐC HẬN 30 THÁNG 4 - Phần 10 - 11 : 16 TẤN VÀNG - NGÂN HÀNG QUỐC GIA - THẢM SÁT BA CHÚC (18 THÁNG 4 - 1978) Tỉnh An Giang
Phần 10 : 16 TẤN VÀNG - NGÂN HÀNG QUỐC GIA
Tháng Tư Đen có nhiều kỷ niệm đau thương uất hận để nhớ đời và để nhắc nhở đám hậu sinh.
Riêng chúng tôi không có cao vọng ấy, chỉ xin cống hiến bạn đọc một hồ sơ cũ:
Vụ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa mà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:
Người đã từng bị vu khống,cáo buộc là đã cuỗm ra ngoại quốc khi gia đình ông phải lưu vong lúc Tháng Tư 1975.
Tối 21 Tháng Tư 1975, chiến trường Miền Nam Việt Nam sôi động. Do áp lực nặng nề cả về mặt quân sự lẫn chính trị, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn tố cáo Hoa Kỳ phản bội đồng minh, sau đó tuyên bố từ chức.
Ngày 26/4/1975, ông Thiệu bỏ nước, di tản sang Đài Loan .Ông Thiệu vừa rời khỏi nước, trong nước rộn lên “những lời đồn đại từ ‘đài phát thanh Catinat’ quả quyết là "ông Thiệu đã mang theo 16 tấn hàng gồm cả một bộ sưu tập đá quý và đồ cổ đánh cắp ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia và 4 tỉ vàng nén.”
Báo chí thiên tả ở Sài Gòn lúc bấy giờ do bọn Cộng sản nằm vùng chiếm lĩnh đã không bỏ lỡ cơ hội khai thác làm nhục chí chiến đấu các chiến sĩ quốc gia và gây hoang mang trong quần chúng Miền Nam Việt Nam.
Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, CSVN tiếp tục kích động báo chí thổi phồng “huyền thoại” cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ăn cướp 16 tấn vàng chẳng những gây thêm công phẫn lâu dài trong lòng người dân đối với cá nhân ông Thiệu, mà còn nhân rộng lòng oán thù đối với chính thể VNCH.
Mãi đến 31 năm sau (năm 2006), bức màn bí mật về 16 tấn vàng mới hé mở.
Kẻ gian hùng giấu mặt và 16 tấn vàng
Báo Tuổi Trẻ ngày ngày 26/4/2006 bắt đầu đăng một loạt phóng sự về vụ 16 tấn vàng mà người ta rêu rao là đã bị ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, cướp đoạt, mang ra nước ngoài.
Loạt bài này làm sáng tỏ một vấn đề: Không hề có chuyện ông Nguyễn Văn Thiệu hay bất cứ viên chức nào của chính quyền VNCH chuyển 16 tấn vàng ra ngoại quốc!
Tờ báo ghi nhận: “16 tấn vàng - đó là khoản tài sản dự trữ còn lại của chính quyền Sài Gòn vào tháng 4/1975, trị giá khoảng 120 triệu đô-la Mỹ vào lúc đó, tức khoảng 320 triệu đô-la Mỹ thời điểm hiện nay”.
Tờ Tuổi Trẻ khẳng định: “Không có chuyện 16 tấn vàng đã được đóng thùng sẵn (chờ chở đi) và lại càng không có chuyện “số vàng ấy nằm ở sân bay khi quân của tướng Dũng [Văn Tiến Dũng] tràn vào Tân Sơn Nhất”. 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn dưới tầng hầm [kho dự trữ vàng quốc gia] ở số 17 Bến Chương Dương, Sài Gòn”..
Chiều 30-4-1975, sau khi tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, trụ sở Ngân Hàng Quốc Gia VNCH vẫn còn được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các nhân viên ngân hàng và các cảnh sát viên, dưới sự chỉ huy của một thiếu tá. Họ đã không rời vị trí vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ an toàn kho tiền và vàng dự trữ, không để nó bị xâm nhập, cướp phá giống như nhiều tòa nhà và trụ sở lân cận. Họ cố thủ trụ sở Ngân hàng cho đến khi bộ đội CS xuất hiện.
* Nhân Chứng thứ nhất: người tiếp nhận (Hoàng Minh Duyệt)
Người tường thuật chi tiết về vụ 16 tấn vàng là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị Cộng sản tiếp quản Ngân hàng Quốc gia. Ông Duyệt nói: “Tôi chỉ biết được tầng hầm chứa vàng ở đây khi tham gia nhóm kiểm kê. Nhóm kiểm kê lúc đó có tôi, anh Lân và anh em trong đơn vị; về phía Ban kinh tài có anh Huỳnh Kỳ Thanh, cô Tiếp... Về phía Ngân Hàng Quốc Gia có hai anh viên chức cũ ở đây là anh Huỳnh Bửu Sơn và anh Lê Minh Kiêm”.
Ông Duyệt mô tả: “Tầng hầm chứa vàng sáng choang, khá rộng, rộng đến mức có thể... đá bóng được. Tiền và vàng được cất giữ trong những tủ sắt đặt trong các hầm. Mỗi cửa hầm đều có ổ khóa riêng, sau lớp cửa đó là cửa hầm tự động với khóa bằng mã số. Lần đầu tiên tôi thấy vàng nhiều như thế, thấy được những thỏi vàng như thế. Tôi lại thấy nhiều loại đồng tiền vàng rất đẹp, rất lạ và nghe nói rất quí, cả những cúc áo bằng vàng thật độc đáo”.
Ông Duyệt tâm sự: “Chúng tôi nhìn rất thích nhưng chẳng ai “xơ múi” dù chỉ một đồng tiền vàng. Mà thật ra không ai trong chúng tôi có ý nghĩ gì bậy bạ, bởi mọi người đều rất vô tư và trong sáng. Cả những anh em viên chức cũ của ngân hàng cũng vậy, như anh Huỳnh Bửu Sơn chẳng hạn”.
Báo Tuổi Trẻ cho biết người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn - lúc bấy giờ làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát Hành Ngân Hàng Quốc Gia. (Vào năm 2006 khi Tuổi Trẻ đưa lên loạt bài phóng sự này thì Huỳnh Bửu Sơn đang là giám đốc đối ngoại Pepsi Co. tại Việt Nam).
* Nhân Chứng thứ hai: người bàn giao (Huỳnh Bửu Sơn)
Huỳnh Bửu Sơn kể: “Vào đầu tháng 6-1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc Gia tiến hành kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng của Ngân Hàng Quốc Gia thuộc quyền quản lý của Nha Phát Hành, nơi tôi làm việc trong ban lãnh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh giám đốc Nha Phát Hành đã đi cải tạo tập trung, do đó trong số người còn ở lại chỉ có tôi là người giữ chìa khóa và anh Lê Minh Kiêm - chánh sự vụ - là người giữ mã số của các hầm bạc.
“Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt - chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia”.
Bài báo ghi tiếp: “Theo ông Sơn, số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất.
“Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép.
Ông Huỳnh Bửu Sơn còn xác nhận: “Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó.
“Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ”.
* Nhân chứng quan trọng thứ ba: Lữ Minh Châu
Trên đây chỉ mới là chứng từ của hai viên chức cấp nhỏ và lời nhận định của một luật sư. Báo Thanh Niên phát hành ngày 03/10/2006 trong bài “Trở lại câu chuyện 16 tấn vàng ngày 30/4/1975”, có nêu ra nhân chứng thứ ba là Lữ Minh Châu, bí danh Ba Châu. Ông Châu là người, “ngày 30/4/1975, với tư cách Trưởng ban Quân quản các Ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, đã tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ”.
Năm 1986, ông làm Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (nay là Thống đốc), chức vụ tương đương với chức Bộ trưởng.
Hoàng Hải Vân, phóng viên báo Thanh Niên, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn với ông Lữ Minh Châu.
Trước khi nêu câu hỏi, nhà báo đặt vấn đề: “Chuyện Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu mang theo 16 tấn vàng hồi đó được báo chí loan tin, sau này người nói có người nói không. Gần đây BBC lại đề cập đến thông tin này. Mới đây nhất, báo Tuổi Trẻ có một loạt bài dẫn lời các nhân chứng nói rằng không có chuyện đó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức từ phía Nhà nước về vấn đề này.
Anh Phóng viên hỏi ông Châu có chuyện đó không. Ông Châu đáp: “Hoàn toàn không có. 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng.”
PV lại hỏi: “Nguyễn Văn Thiệu không lấy vàng đi, tại sao lâu nay Nhà nước mình không nói lại cho rõ?”
Ông Châu đáp: “Mình biết rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu”.
Rõ ràng là ngụy biện! Đâu phải đợi có người “đặt câu hỏi chính thức” mới đính chính! 16 tấn vàng! Một khối tài sản khổng lồ của đất nước, một chiến lợi phẩm cực kỳ to lớn!
Im lặng để mặc “tin đồn đăng trên báo chí” hẳn phải có hậu ý! Hậu ý gì thì không rõ, nhưng khi thiên hạ đinh ninh rằng thằng chạy là thằng ăn cắp, thì cái thằng nắm quyền chủ kho kế tiếp tất tự tung tự tác, ngốn hết miếng ngon, món bở… Có ai bắt tội thì cứ thằng ăn cắp trốn chạy kia mà truy, nào liên can gì tới cái thằng mới tiếp nhận chìa khóa kho này!!!
* Một luật sư ở VN nhận định
Phản hồi loạt bài phóng sự của Tuổi Trẻ, Luật sư Lê Công Định trình bày nhận định của ông qua bài viết “Liệu có vụ tham nhũng kinh khủng nào theo kiểu PMU 18 đối với 16 tấn vàng hay không?”
Ông luật sư đặt vấn đề:
“Câu chuyện thêu dệt, bất kể vì dụng ý gì, về việc cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “đánh cắp” 16 tấn vàng, đã kết thúc. Người trong cuộc đã được giải oan, ít nhất ở khía cạnh tham nhũng và ăn cắp của công.”
Vâng! Người trong cuộc, cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, kẻ bị gán tội cướp đoạt tài sản quốc gia, nay được giải oan.
Cũng giống như luật sư Lê Công Định, người dân không còn thắc mắc về ông Thiệu, nhưng vẫn phân vân về số phận của 16 tấn vàng: “Sau 1975 toàn bộ 16 tấn vàng đó đã được sử dụng như thế nào? Lẽ nào số trữ kim to lớn ấy không giúp ích gì cho quốc gia để đến nỗi 10 năm sau 1975 nền kinh tế đất nước phải rơi vào khủng hoảng liên tục và đồng tiền mất giá không kìm hãm được?”
Từ đó, chắc chắn nhiều người dân đồng ý với nhận định của Luật sư Định rằng 16 tấn vàng ấy đã rơi vào túi kẻ tham nhũng sau 30/4/1975. Người ta cũng tán thành lời Ls Định cảnh báo: “Kẻ tham nhũng tất nhiên có thể đã xa chạy cao bay để tránh né sự trừng phạt của luật pháp, song như một định mệnh ở khắp nơi, nhân dân và lịch sử rồi cũng sẽ lôi tuột họ trở lại để đòi hỏi công lý dù sau 10, 20 hay 30 năm chăng nữa! Đời cha không trả thì đời con phải trả. Lưới trời lồng lộng”.
Trở lại cuộc phỏng vấn của báo Thanh Niên với ông Lữ Minh Châu. Phóng viên hỏi ông Châu:
- Khi tiếp quản, liệu tiền, vàng có bị thất thoát không?
Ông Châu trả lời:
- Theo tôi thì không thể. Ngân hàng của chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.
Hỏi:
- Số vàng đó sau này đi về đâu?
Đáp:
- Nó trở thành tài sản quốc gia, được quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng, sau đó là của Nhà nước Việt Nam thống nhất.
Quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng ư? Chính quyền cách mạng sau 30/4/1975 tại Miền Nam Việt Nam làm gì có luật pháp!
Mặt khác, cái chính quyền ấy không những chỉ lấy được vàng và tiền trong Ngân Hàng Quốc Gia VNCH, mà còn thu hồi “hơn 100 triệu USD, tiền gửi của ngân hàng cũ ở nước ngoài” như ông Lữ Minh Châu tiết lộ.
Số tiền này, dân cả nước sau 30/4/1975 chẳng hề nghe biết, mải sau hơn 3 thập niên mới nghe ông Lữ Minh Châu đề cập đến, nghĩa là làm sao?
Vả lại, khi bảo rằng “chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt,” phải chăng ông Lữ Minh Châu muốn chơi chữ?
Chúng ta thử đọc kỹ lại câu: “Chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.”
Thâm thúy lắm! Ông Lữ Minh Châu đâu dám nói “ta cũng QUẢN LÝ RẤT chặt, chặt như chính quyền cũ.” Phải chăng ông Châu biết rõ chuyện “hậu trường” nhưng không dám bộc bạch? Để mặc ai muốn hiểu sao hiểu! Hay là ông có ngụ ý nói: Vàng và tiền ấy là chiến lợi phẩm! Phe TA CHẶT rồi! Chôm rồi! Chỉa hết rồi! Chia chác cả rồi! Đừng ai thắc mắc về cái chuyện 16 tấn vàng và hơn 100 triệu đô-la của thời 30/4/1975 nữa! Lịch sử đã sang trang !!!???
Lê Thiên
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã chuyển 16 tấn vàng sang Mỹ ?
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134622/Ky-1-Ong-Thieu-da-chuyen-16-tan-vang-sang-My.html
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134801/Ky-2-Chuyen-ra-di-bi-mat.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/135236/Ky-5-Vang-doi-chu.html
Người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn ,làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia (VNCH).
Dưới đây là hồi ức của ông về cuộc kiểm kê kho vàng lần cuối cùng trước khi bàn giao cho chính quyền cách mạng.
Người giữ chìa khóa kho vàng
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/135370/Ky-cuoi-Nguoi-giu-chia-khoa-kho-vang.html
Sáng 1-5, theo phân công, đơn vị chúng tôi đến trụ sở Ngân hàng Quốc gia số 17 Bến Chương Dương. Trước cửa trụ sở lúc đó ngổn ngang súng ống, quần áo, đồ đạc nhà binh. Chúng tôi tiến vào bên trong ngân hàng. Các nhân viên bảo vệ ngân hàng vẫn còn đó, kể cả viên thiếu tá cảnh sát.
Chúng tôi cho họ về nhà và triển khai đội hình bảo vệ tòa nhà. Lúc ấy, thú thật là chúng tôi không hề biết trong đó có 16 tấn vàng, chỉ biết đây là mục tiêu cần bảo vệ nghiêm ngặt trong những ngày đầu giải phóng. Tôi cũng không biết ông Nguyễn Văn Hảo là ai, nhưng chúng tôi được lệnh của cấp trên là phải cử hai chiến sĩ đi bảo vệ ông Hảo. Vào thời gian ấy, tôi thấy ông Hảo thỉnh thoảng có đến ngân hàng làm việc gì đó.
Tôi chỉ biết được tầng hầm chứa vàng ở đây khi tham gia nhóm kiểm kê. Nhóm kiểm kê lúc đó có tôi, anh Lân và anh em trong đơn vị; về phía Ban kinh tài có anh Huỳnh Kỳ Thanh, cô Tiếp... Về phía Ngân hàng Quốc gia có hai anh viên chức cũ ở đây là anh Huỳnh Bửu Sơn và anh Lê Minh Kiêm.
Tầng hầm chứa vàng sáng choang, khá rộng, rộng đến mức có thể... đá bóng được. Tiền và vàng được cất giữ trong những tủ sắt đặt trong các hầm. Mỗi cửa hầm đều có ổ khóa riêng, sau lớp cửa đó là cửa hầm tự động với khóa bằng mã số. Lần đầu tiên tôi thấy vàng nhiều như thế, thấy được những thỏi vàng như thế.
Tôi thò tay định cầm thử một thỏi lên, anh Huỳnh Bửu Sơn thấy vậy phì cười: “Không lấy thế thì khó mà nhấc được”. Quả thật, một thỏi vàng coi nhỏ vậy mà nặng khoảng 13kg. Tôi lại thấy nhiều loại đồng tiền vàng rất đẹp, rất lạ và nghe nói rất quí, cả những cúc áo bằng vàng thật độc đáo.
Chúng tôi nhìn rất thích nhưng chẳng ai “xơ múi” dù chỉ một đồng tiền vàng. Mà thật ra không ai trong chúng tôi có ý nghĩ gì bậy bạ, bởi mọi người đều rất vô tư và trong sáng. Cả những anh em viên chức cũ của ngân hàng cũng vậy, như anh Huỳnh Bửu Sơn chẳng hạn. Tôi và Sơn lúc ấy còn rất trẻ và cùng lứa tuổi với nhau.
Chỉ cách đó vài hôm, chúng tôi là hai người thuộc hai chế độ khác nhau, còn bây giờ chúng tôi hay ngồi đánh cờ và tâm sự với nhau trong hòa bình... Sơn nói: “Mình sẽ không ra đi, mình ở lại VN và góp chút sức mình cho xứ sở...”.
Chúng tôi lúc ấy ngồi trên một đống vàng, nhưng những khao khát xen lẫn suy tư về ngày mai còn nặng hơn số vàng 16 tấn kia”.
Thay cho lời kết
Tháng Tư Đen có nhiều kỷ niệm đau thương uất hận để nhớ đời và để nhắc nhở đám hậu sinh.
Riêng chúng tôi không có cao vọng ấy, chỉ xin cống hiến bạn đọc một hồ sơ cũ:
Vụ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa mà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:
Người đã từng bị vu khống,cáo buộc là đã cuỗm ra ngoại quốc khi gia đình ông phải lưu vong lúc Tháng Tư 1975.
Tối 21 Tháng Tư 1975, chiến trường Miền Nam Việt Nam sôi động. Do áp lực nặng nề cả về mặt quân sự lẫn chính trị, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn tố cáo Hoa Kỳ phản bội đồng minh, sau đó tuyên bố từ chức.
Ngày 26/4/1975, ông Thiệu bỏ nước, di tản sang Đài Loan .Ông Thiệu vừa rời khỏi nước, trong nước rộn lên “những lời đồn đại từ ‘đài phát thanh Catinat’ quả quyết là "ông Thiệu đã mang theo 16 tấn hàng gồm cả một bộ sưu tập đá quý và đồ cổ đánh cắp ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia và 4 tỉ vàng nén.”
Báo chí thiên tả ở Sài Gòn lúc bấy giờ do bọn Cộng sản nằm vùng chiếm lĩnh đã không bỏ lỡ cơ hội khai thác làm nhục chí chiến đấu các chiến sĩ quốc gia và gây hoang mang trong quần chúng Miền Nam Việt Nam.
Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, CSVN tiếp tục kích động báo chí thổi phồng “huyền thoại” cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ăn cướp 16 tấn vàng chẳng những gây thêm công phẫn lâu dài trong lòng người dân đối với cá nhân ông Thiệu, mà còn nhân rộng lòng oán thù đối với chính thể VNCH.
Mãi đến 31 năm sau (năm 2006), bức màn bí mật về 16 tấn vàng mới hé mở.
Kẻ gian hùng giấu mặt và 16 tấn vàng
Báo Tuổi Trẻ ngày ngày 26/4/2006 bắt đầu đăng một loạt phóng sự về vụ 16 tấn vàng mà người ta rêu rao là đã bị ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, cướp đoạt, mang ra nước ngoài.
Loạt bài này làm sáng tỏ một vấn đề: Không hề có chuyện ông Nguyễn Văn Thiệu hay bất cứ viên chức nào của chính quyền VNCH chuyển 16 tấn vàng ra ngoại quốc!
Tờ báo ghi nhận: “16 tấn vàng - đó là khoản tài sản dự trữ còn lại của chính quyền Sài Gòn vào tháng 4/1975, trị giá khoảng 120 triệu đô-la Mỹ vào lúc đó, tức khoảng 320 triệu đô-la Mỹ thời điểm hiện nay”.
Tờ Tuổi Trẻ khẳng định: “Không có chuyện 16 tấn vàng đã được đóng thùng sẵn (chờ chở đi) và lại càng không có chuyện “số vàng ấy nằm ở sân bay khi quân của tướng Dũng [Văn Tiến Dũng] tràn vào Tân Sơn Nhất”. 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn dưới tầng hầm [kho dự trữ vàng quốc gia] ở số 17 Bến Chương Dương, Sài Gòn”..
Chiều 30-4-1975, sau khi tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, trụ sở Ngân Hàng Quốc Gia VNCH vẫn còn được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các nhân viên ngân hàng và các cảnh sát viên, dưới sự chỉ huy của một thiếu tá. Họ đã không rời vị trí vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ an toàn kho tiền và vàng dự trữ, không để nó bị xâm nhập, cướp phá giống như nhiều tòa nhà và trụ sở lân cận. Họ cố thủ trụ sở Ngân hàng cho đến khi bộ đội CS xuất hiện.
* Nhân Chứng thứ nhất: người tiếp nhận (Hoàng Minh Duyệt)
Người tường thuật chi tiết về vụ 16 tấn vàng là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị Cộng sản tiếp quản Ngân hàng Quốc gia. Ông Duyệt nói: “Tôi chỉ biết được tầng hầm chứa vàng ở đây khi tham gia nhóm kiểm kê. Nhóm kiểm kê lúc đó có tôi, anh Lân và anh em trong đơn vị; về phía Ban kinh tài có anh Huỳnh Kỳ Thanh, cô Tiếp... Về phía Ngân Hàng Quốc Gia có hai anh viên chức cũ ở đây là anh Huỳnh Bửu Sơn và anh Lê Minh Kiêm”.
Ông Duyệt mô tả: “Tầng hầm chứa vàng sáng choang, khá rộng, rộng đến mức có thể... đá bóng được. Tiền và vàng được cất giữ trong những tủ sắt đặt trong các hầm. Mỗi cửa hầm đều có ổ khóa riêng, sau lớp cửa đó là cửa hầm tự động với khóa bằng mã số. Lần đầu tiên tôi thấy vàng nhiều như thế, thấy được những thỏi vàng như thế. Tôi lại thấy nhiều loại đồng tiền vàng rất đẹp, rất lạ và nghe nói rất quí, cả những cúc áo bằng vàng thật độc đáo”.
Ông Duyệt tâm sự: “Chúng tôi nhìn rất thích nhưng chẳng ai “xơ múi” dù chỉ một đồng tiền vàng. Mà thật ra không ai trong chúng tôi có ý nghĩ gì bậy bạ, bởi mọi người đều rất vô tư và trong sáng. Cả những anh em viên chức cũ của ngân hàng cũng vậy, như anh Huỳnh Bửu Sơn chẳng hạn”.
Báo Tuổi Trẻ cho biết người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn - lúc bấy giờ làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát Hành Ngân Hàng Quốc Gia. (Vào năm 2006 khi Tuổi Trẻ đưa lên loạt bài phóng sự này thì Huỳnh Bửu Sơn đang là giám đốc đối ngoại Pepsi Co. tại Việt Nam).
* Nhân Chứng thứ hai: người bàn giao (Huỳnh Bửu Sơn)
Huỳnh Bửu Sơn kể: “Vào đầu tháng 6-1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc Gia tiến hành kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng của Ngân Hàng Quốc Gia thuộc quyền quản lý của Nha Phát Hành, nơi tôi làm việc trong ban lãnh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh giám đốc Nha Phát Hành đã đi cải tạo tập trung, do đó trong số người còn ở lại chỉ có tôi là người giữ chìa khóa và anh Lê Minh Kiêm - chánh sự vụ - là người giữ mã số của các hầm bạc.
“Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt - chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia”.
Bài báo ghi tiếp: “Theo ông Sơn, số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất.
“Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép.
Ông Huỳnh Bửu Sơn còn xác nhận: “Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó.
“Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ”.
* Nhân chứng quan trọng thứ ba: Lữ Minh Châu
Trên đây chỉ mới là chứng từ của hai viên chức cấp nhỏ và lời nhận định của một luật sư. Báo Thanh Niên phát hành ngày 03/10/2006 trong bài “Trở lại câu chuyện 16 tấn vàng ngày 30/4/1975”, có nêu ra nhân chứng thứ ba là Lữ Minh Châu, bí danh Ba Châu. Ông Châu là người, “ngày 30/4/1975, với tư cách Trưởng ban Quân quản các Ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, đã tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ”.
Năm 1986, ông làm Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (nay là Thống đốc), chức vụ tương đương với chức Bộ trưởng.
Hoàng Hải Vân, phóng viên báo Thanh Niên, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn với ông Lữ Minh Châu.
Trước khi nêu câu hỏi, nhà báo đặt vấn đề: “Chuyện Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu mang theo 16 tấn vàng hồi đó được báo chí loan tin, sau này người nói có người nói không. Gần đây BBC lại đề cập đến thông tin này. Mới đây nhất, báo Tuổi Trẻ có một loạt bài dẫn lời các nhân chứng nói rằng không có chuyện đó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức từ phía Nhà nước về vấn đề này.
Anh Phóng viên hỏi ông Châu có chuyện đó không. Ông Châu đáp: “Hoàn toàn không có. 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng.”
PV lại hỏi: “Nguyễn Văn Thiệu không lấy vàng đi, tại sao lâu nay Nhà nước mình không nói lại cho rõ?”
Ông Châu đáp: “Mình biết rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu”.
Rõ ràng là ngụy biện! Đâu phải đợi có người “đặt câu hỏi chính thức” mới đính chính! 16 tấn vàng! Một khối tài sản khổng lồ của đất nước, một chiến lợi phẩm cực kỳ to lớn!
Im lặng để mặc “tin đồn đăng trên báo chí” hẳn phải có hậu ý! Hậu ý gì thì không rõ, nhưng khi thiên hạ đinh ninh rằng thằng chạy là thằng ăn cắp, thì cái thằng nắm quyền chủ kho kế tiếp tất tự tung tự tác, ngốn hết miếng ngon, món bở… Có ai bắt tội thì cứ thằng ăn cắp trốn chạy kia mà truy, nào liên can gì tới cái thằng mới tiếp nhận chìa khóa kho này!!!
* Một luật sư ở VN nhận định
Phản hồi loạt bài phóng sự của Tuổi Trẻ, Luật sư Lê Công Định trình bày nhận định của ông qua bài viết “Liệu có vụ tham nhũng kinh khủng nào theo kiểu PMU 18 đối với 16 tấn vàng hay không?”
Ông luật sư đặt vấn đề:
“Câu chuyện thêu dệt, bất kể vì dụng ý gì, về việc cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “đánh cắp” 16 tấn vàng, đã kết thúc. Người trong cuộc đã được giải oan, ít nhất ở khía cạnh tham nhũng và ăn cắp của công.”
Vâng! Người trong cuộc, cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, kẻ bị gán tội cướp đoạt tài sản quốc gia, nay được giải oan.
Cũng giống như luật sư Lê Công Định, người dân không còn thắc mắc về ông Thiệu, nhưng vẫn phân vân về số phận của 16 tấn vàng: “Sau 1975 toàn bộ 16 tấn vàng đó đã được sử dụng như thế nào? Lẽ nào số trữ kim to lớn ấy không giúp ích gì cho quốc gia để đến nỗi 10 năm sau 1975 nền kinh tế đất nước phải rơi vào khủng hoảng liên tục và đồng tiền mất giá không kìm hãm được?”
Từ đó, chắc chắn nhiều người dân đồng ý với nhận định của Luật sư Định rằng 16 tấn vàng ấy đã rơi vào túi kẻ tham nhũng sau 30/4/1975. Người ta cũng tán thành lời Ls Định cảnh báo: “Kẻ tham nhũng tất nhiên có thể đã xa chạy cao bay để tránh né sự trừng phạt của luật pháp, song như một định mệnh ở khắp nơi, nhân dân và lịch sử rồi cũng sẽ lôi tuột họ trở lại để đòi hỏi công lý dù sau 10, 20 hay 30 năm chăng nữa! Đời cha không trả thì đời con phải trả. Lưới trời lồng lộng”.
Trở lại cuộc phỏng vấn của báo Thanh Niên với ông Lữ Minh Châu. Phóng viên hỏi ông Châu:
- Khi tiếp quản, liệu tiền, vàng có bị thất thoát không?
Ông Châu trả lời:
- Theo tôi thì không thể. Ngân hàng của chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.
Hỏi:
- Số vàng đó sau này đi về đâu?
Đáp:
- Nó trở thành tài sản quốc gia, được quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng, sau đó là của Nhà nước Việt Nam thống nhất.
Quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng ư? Chính quyền cách mạng sau 30/4/1975 tại Miền Nam Việt Nam làm gì có luật pháp!
Mặt khác, cái chính quyền ấy không những chỉ lấy được vàng và tiền trong Ngân Hàng Quốc Gia VNCH, mà còn thu hồi “hơn 100 triệu USD, tiền gửi của ngân hàng cũ ở nước ngoài” như ông Lữ Minh Châu tiết lộ.
Số tiền này, dân cả nước sau 30/4/1975 chẳng hề nghe biết, mải sau hơn 3 thập niên mới nghe ông Lữ Minh Châu đề cập đến, nghĩa là làm sao?
Vả lại, khi bảo rằng “chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt,” phải chăng ông Lữ Minh Châu muốn chơi chữ?
Chúng ta thử đọc kỹ lại câu: “Chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.”
Thâm thúy lắm! Ông Lữ Minh Châu đâu dám nói “ta cũng QUẢN LÝ RẤT chặt, chặt như chính quyền cũ.” Phải chăng ông Châu biết rõ chuyện “hậu trường” nhưng không dám bộc bạch? Để mặc ai muốn hiểu sao hiểu! Hay là ông có ngụ ý nói: Vàng và tiền ấy là chiến lợi phẩm! Phe TA CHẶT rồi! Chôm rồi! Chỉa hết rồi! Chia chác cả rồi! Đừng ai thắc mắc về cái chuyện 16 tấn vàng và hơn 100 triệu đô-la của thời 30/4/1975 nữa! Lịch sử đã sang trang !!!???
Lê Thiên
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã chuyển 16 tấn vàng sang Mỹ ?
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134622/Ky-1-Ong-Thieu-da-chuyen-16-tan-vang-sang-My.html
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134801/Ky-2-Chuyen-ra-di-bi-mat.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/135236/Ky-5-Vang-doi-chu.html
Người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn ,làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia (VNCH).
Dưới đây là hồi ức của ông về cuộc kiểm kê kho vàng lần cuối cùng trước khi bàn giao cho chính quyền cách mạng.
Người giữ chìa khóa kho vàng
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/135370/Ky-cuoi-Nguoi-giu-chia-khoa-kho-vang.html
Sáng 1-5, theo phân công, đơn vị chúng tôi đến trụ sở Ngân hàng Quốc gia số 17 Bến Chương Dương. Trước cửa trụ sở lúc đó ngổn ngang súng ống, quần áo, đồ đạc nhà binh. Chúng tôi tiến vào bên trong ngân hàng. Các nhân viên bảo vệ ngân hàng vẫn còn đó, kể cả viên thiếu tá cảnh sát.
Chúng tôi cho họ về nhà và triển khai đội hình bảo vệ tòa nhà. Lúc ấy, thú thật là chúng tôi không hề biết trong đó có 16 tấn vàng, chỉ biết đây là mục tiêu cần bảo vệ nghiêm ngặt trong những ngày đầu giải phóng. Tôi cũng không biết ông Nguyễn Văn Hảo là ai, nhưng chúng tôi được lệnh của cấp trên là phải cử hai chiến sĩ đi bảo vệ ông Hảo. Vào thời gian ấy, tôi thấy ông Hảo thỉnh thoảng có đến ngân hàng làm việc gì đó.
Tôi chỉ biết được tầng hầm chứa vàng ở đây khi tham gia nhóm kiểm kê. Nhóm kiểm kê lúc đó có tôi, anh Lân và anh em trong đơn vị; về phía Ban kinh tài có anh Huỳnh Kỳ Thanh, cô Tiếp... Về phía Ngân hàng Quốc gia có hai anh viên chức cũ ở đây là anh Huỳnh Bửu Sơn và anh Lê Minh Kiêm.
Tầng hầm chứa vàng sáng choang, khá rộng, rộng đến mức có thể... đá bóng được. Tiền và vàng được cất giữ trong những tủ sắt đặt trong các hầm. Mỗi cửa hầm đều có ổ khóa riêng, sau lớp cửa đó là cửa hầm tự động với khóa bằng mã số. Lần đầu tiên tôi thấy vàng nhiều như thế, thấy được những thỏi vàng như thế.
Tôi thò tay định cầm thử một thỏi lên, anh Huỳnh Bửu Sơn thấy vậy phì cười: “Không lấy thế thì khó mà nhấc được”. Quả thật, một thỏi vàng coi nhỏ vậy mà nặng khoảng 13kg. Tôi lại thấy nhiều loại đồng tiền vàng rất đẹp, rất lạ và nghe nói rất quí, cả những cúc áo bằng vàng thật độc đáo.
Chúng tôi nhìn rất thích nhưng chẳng ai “xơ múi” dù chỉ một đồng tiền vàng. Mà thật ra không ai trong chúng tôi có ý nghĩ gì bậy bạ, bởi mọi người đều rất vô tư và trong sáng. Cả những anh em viên chức cũ của ngân hàng cũng vậy, như anh Huỳnh Bửu Sơn chẳng hạn. Tôi và Sơn lúc ấy còn rất trẻ và cùng lứa tuổi với nhau.
Chỉ cách đó vài hôm, chúng tôi là hai người thuộc hai chế độ khác nhau, còn bây giờ chúng tôi hay ngồi đánh cờ và tâm sự với nhau trong hòa bình... Sơn nói: “Mình sẽ không ra đi, mình ở lại VN và góp chút sức mình cho xứ sở...”.
Chúng tôi lúc ấy ngồi trên một đống vàng, nhưng những khao khát xen lẫn suy tư về ngày mai còn nặng hơn số vàng 16 tấn kia”.
Thay cho lời kết
Vụ chết người ở trụ sở công an: Xuất hiện đoạn băng gạ gẫm vợ nạn nhân!
Thứ Tư, 27/04/2011 21:56 (NLĐO)- Trưa 27-4, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ anh Nhựt đã cung cấp cho PV Báo Người Lao Động hai đoạn băng ghi âm cuộc điện thoại giữa chị và một người đàn ông tên P.Liên quan vụ anh Nguyễn Công Nhựt (SN 1981, nguyên trưởng Phòng Quản lý sản phẩm Công ty Kumho - chuyên sản xuất lốp ô tô) chết tại trụ sở Công an huyện Bến Cát (Báo Người Lao Động ngày 27-4 đã thông tin), chiều cùng ngày vợ nạn nhân cho biết thi thể anh Nhựt đã được chôn cất tại quê nhà (huyện Cái Lậy, tỉnh Tiền Giang). Trước đó, chiều 26-4, tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cơ quan chức năng đã khám nghiệm tử thi anh Nhựt. Chị Tuyền gần như ngã quỵ sau khi nhìn thấy thi thể chồng ở nhà xác Trưa 27-4, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ anh Nhựt đã cung cấp qua thư điện tử cho PV báo Người Lao Động hai đoạn băng ghi âm hai cuộc điện thoại giữa chị và một người đàn ông tự xưng tên P. Theo chị Tuyền, hai đoạn băng được chị ghi lại khi chồng chị còn sống và đang bị tạm giữ ở công an huyện Bến Cát. Ngoài đoạn băng ghi âm, chị Tuyền còn cung cấp số điện thoại mà P. đã dùng để gọi điện cho chị. Khi chúng tôi gọi vào số máy này thì gặp một người đàn ông. Khi nghe PV giới thiệu và đề nghị được gặp để xác minh những thông tin trong đoạn ghi âm mà chị Tuyền cung cấp thì bên kia đầu dây tắt máy. Đám tang anh Nguyễn Công Nhựt Chiều cùng ngày, PV đã trao đổi qua điện thoại với ông Phạm Xuân Trường, Quyền Chánh văn phòng công an tỉnh Bình Dương về nội dung chính của hai đoạn băng trên. Ông Trường cho biết sẽ tiếp PV vào ngày mai, 28-4 và tiếp nhận đoạn ghi âm để phục vụ công tác điều tra. Bên cạnh đó, ông sẽ xin ý kiến lãnh đạo Công an tỉnh Bình Dương để trả lời báo chí một cách chính thức về vụ việc. Ngoài ra, chiều 27-4, PV cũng đã liên hệ với thiếu tướng Võ Thành Đức, Giám đốc Công an tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, ông Đức từ chối trả lời "nóng" qua điện thoại. 2 đoạn băng chúng tôi nhận được có nội dung chủ yếu cho thấy người có tên P. gạ gẫm chị Tuyền vào khách sạn với y và hé lộ 1 số chi tiết liên quan đến người đã mất là anh Nhựt, chồng chị Tuyền. Thông tin chi tiết về vụ việc này chúng tôi sẽ đăng tải tiếp trên báo in Người Lao Động, phát hành sáng mai, 28-4-2011. Quảng Nhân - Minh Sơn |

