TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Monday, August 10, 2009

Ngư dân Việt Nam bị cầm giữ

Một số ngư dân Việt Nam vừa mãn hạn tù tại Indonesia

Dư luận trong nước hiện đang hết sức quan tâm tới số 25 ngư dân Việt Nam đang bị Trung Quốc giam giữ vì 'vi phạm lãnh hải' trong khi đánh bắt ở gần quần đảo Hoàng Sa.

Tuy nhiên, ít người biết rằng, còn hàng trăm ngư dân Việt Nam đang bị cầm giữ tại các nước trong khu vực trong khi cũng có câu hỏi về cách giải quyết của chính phủ Việt Nam.

Hồng Nga của đài BBC đã đi tìm hiểu chuyện ngư dân Việt Nam bị bắt tại Indonesia:

Rời Hong Kong buổi sáng, trời vần vũ bão. Tới Pulau Batam buổi chiều, nắng đổ chói lòa. Giữa sáng và chiều, mưa và nắng, là một Biển Đông mênh mông và cuồn cuộn sóng.

Tôi tới Indonesia với mục đích rất rõ ràng: đi tìm ngư dân Việt Nam hiện đang bị nước này giam giữ. Indonesia được cho là có luật đánh cá cực kỳ nghiêm khắc, và con số người nước ngoài, nhất là người Việt, bị bắt vì 'vi phạm ngư trường' Indonesia lên tới hàng nghìn.

Trại tù Lapas Barelang được sơn màu trắng xám, nằm ngay ngoài ngoại ô thành phố Batam. Đây là thủ phủ đảo Batam, một đảo thuộc loại lớn trong các đảo ở đặc khu Riau.

Nếu người ta ví chuỗi đảo Riau như một vốc hạt tiêu ông Trời ném xuống biển, thì Batam là một hạt tiêu sọ, mấy năm nay phát triển vượt bậc, thu hút nhiều đầu tư và khách du lịch nước ngoài.

Tất nhiên, đối với các tù nhân đang ngồi bóc lịch ở trong trại, thì thế giới bên ngoài kia chỉ có hai màu mưa và nắng.

Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1986, người huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, bị bắt từ tháng Ba 2007.

Người tầm thước, chắc chắn, nước da đen và đôi mắt nhìn thẳng rất lì, Tùng là tài công (thuyền trưởng) của chiếc tàu số hiệu KG 9583-TS. Tàu có 12 thuyền viên, đều đã được thả về nước, riêng thuyền trưởng bị án nặng nhất là 3 năm 8 tháng thì còn ngồi trong trại.

Tùng kể, tàu bị bắt lúc giữa trưa, khi đang thả cần câu cá mập.

"Lúc nghe thấy tàu hải quân Indo phóng tới, tui đã cho cắt hết dây câu, bỏ chạy. Thế nhưng không kịp, tàu của họ nhanh quá."

"Khi bị bắt, nghe họ nói mới biết đã vào hải phận Indonesia. Lúc đó tui cứ nghĩ vẫn đang trong vùng biển Singapore."

Cùng bắt với tàu của Tùng, là tàu KG 09862-TS, vì tàu cá Việt Nam thường đi có cặp. Thuyền trưởng tàu này đã được thả về sau khi thế chân là một thuyền viên, Nguyễn Văn Liệp, sinh 1969.

Khi Trung Quốc áp dụng lệnh cấm đánh bắt tại vùng mà nước này gọi là hải phận của họ, nhiều ngư dân Việt Nam đã chuyển hướng xuống đánh bắt phía nam. Trong số thuyền viên bị Indonesia bắt, có cả người các tỉnh miền Trung như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa.

Đôi khi thuyền viên nhận thế chỗ cho tài công sau khi được họ hứa hẹn sẽ chu cấp cho gia đình và giúp để sớm ra tù.

Anh Liệp, quê huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nước mắt lưng tròng khi nghĩ đến mẹ già đang vò võ trông con, mà chỉ biết con đang ngồi tù nơi xứ lạ.

Anh thừa nhận: "Lúc bị bắt tôi biết đã vào vùng biển Indonesia. Nhưng chủ cho đi, thì phải đi."

"Biển Việt Nam hết cá rồi, đánh bắt khó hơn biển của bạn."

"Biển hết cá" là lý do ngư dân thường đưa ra để giải thích cho việc vi phạm lãnh hải nước ngoài.

Một lý do nữa, là khi Trung Quốc áp dụng lệnh cấm đánh bắt tại vùng mà nước này gọi là hải phận của họ, nhiều ngư dân Việt Nam đã chuyển hướng xuống đánh bắt phía nam. Trong số thuyền viên bị Indonesia bắt, có cả người các tỉnh miền Trung như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa.

Cũng có việc ranh giới biển không rõ ràng, nhất là tại các vùng chồng lấn khiến cho ngư dân vô tình mắc tội.

Canh cánh nỗi lo

Từ Batam, tôi đi tàu qua Tanjung Pinang, thủ phủ của đặc khu Riau. Thành phố này nằm tại Bintan, đảo lớn nhất của đặc khu, nổi tiếng vì là điểm trung chuyển thời kỳ thuyền nhân Việt Nam ồn ạt trốn đi những năm 70-80-90 thế kỷ trước.

Tanjung Pinang cũng có một nhà tù lớn, gọi nôm na là Lapas 18 vì cách thành phố 18km, hiện đang giữ tới 70 ngư dân Việt Nam.

Ông Phạm Minh Hoàng, sinh năm 1961, dân Kiên Giang, là một trong số đó.

Dáng vẻ hiền lành, ông Hoàng được phân công phụ bếp từ ngày nhập trại. Ông bị bắt hồi tháng 5/2007 và nếu đúng hạn sẽ phải chịu án tới tháng 2/2010.

Ông Phạm Minh Hoàng kể: "Tàu thả lưới, cứ dòng chảy tới đâu, lưới trôi tới đó, ra khỏi hải phận Việt Nam lúc nào chẳng biết."

"Tàu tui (Hiền Hương) bị bắt lúc 8 giờ tối, tắt hết đèn không rõ mặt người. Hải quân họ đến tui cũng không hay, đến lúc họ bật đèn pha mới biết là bị bắt."

"Thú thực lúc đó, tui rất sợ."

Giới chức Indonesia đòi tiền chuộc 170 triệu rupiah, tức khoảng 20.000 đôla Mỹ, thì cho về. Nhưng ông Hoàng nói gia đình không có tiền nên đành ngồi tù tới khi mãn hạn vậy.

Tàu bị tịch thu, chủ đã sang chuộc về, chỉ có người là ở lại.

18 thuyền viên bị xử tù ngắn hạn đã hồi hương, bản thân ông Hoàng đang hy vọng ra tù vào tháng 11 tới, sau mấy lần được giảm án vì cải tạo tốt.

Nhà tù Lapas Barelang

Nhà tù Lapas Barelang là nơi giam giữ nhiều ngư phủ Việt Nam

Chỉ còn hơn ba tháng, nhưng ông tâm sự, mỗi ngày dài như một thế kỷ.

"Ở trong này, khổ lắm cô à. Đói ăn đói mặc đã đành, mà nhớ vợ con, lúc nào cũng canh cánh lo sợ không biết rồi mình có được ra hay không."

Được quản giáo cho phép, ông Hoàng nói vào máy thu cho tôi ghi âm, mong đến tai nhà chức trách Việt Nam:

"Chúng tôi mong ngày mãn án được nhà nước quan tâm bảo lãnh cho anh em về đoàn tụ với gia đình."

Hầu như ngư dân Việt bị giam tại Indo nào cũng có nỗi lo hết hạn mà không về được, vì không có tiền mua vé máy bay, vì sứ quán không làm giấy tờ, vì tệ quan liêu của cả hai nước.

Đã có nhiều trường hợp tù mãn hạn cả mấy tháng trời, mà ngư dân vẫn ăn chực nằm chờ bên đất khách.

Tội nữa, là nhiều trường hợp bị bắt cả năm nay nhưng vì lý do nào đó không được mang ra xét xử, vất vưởng ở một nơi tạm giam xa lắc xa lơ. Được biết trên đảo Terempah, một đảo nằm khá xa trong vùng Biển Đông, vẫn còn hàng chục người Việt đang chờ được ra tòa, ngày ngày đi làm mướn nuôi thân.

"Không làm cá biết làm gì?"

Đa số ngư phủ mà tôi hỏi chuyện đều nói rằng họ chưa bao giờ được tiếp xúc với đại diện của sứ quán Việt Nam, ngay cả khi đã có vài trường hợp người Việt chết trong tù.

Bảo hộ công dân xem ra là một khái niệm còn xa vời với người Việt ở nước ngoài, nhất là những người bị cho là "vi phạm luật lệ của nước bạn".

Báo chí Việt Nam gần đây được bật đèn xanh hào hứng khai thác chủ đề ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, nhưng gần như không đả động tới ngư dân Việt ngồi tù ở các nước khác.

Cũng có ý kiến hoài nghi về khả năng của chính phủ Việt Nam trong việc bảo vệ công dân của mình.

Chúng tôi mong ngày mãn án được nhà nước quan tâm bảo lãnh cho anh em về đoàn tụ với gia đình.

Ngư dân Phạm Minh Hoàng, hiện đang ngồi tù ở Indonesia

Ông Nguyễn Văn Bình, một ngư dân Kiên Giang vừa mãn hạn tù mà tôi gặp ở Tanjung Pinang, nói: "Chúng tôi nhận tội, biết là mình đã sai rồi. Nhưng cái sai đó đã được trả giá bằng hơn ba năm ngồi tù."

"Nay chúng tôi xin nhà nước giúp can thiệp, để chúng tôi hết hạn tù được về với vợ con."

Khi được hỏi về nhà sẽ làm gì, ông Bình nói chắc lại làm nghề cá, vì "không làm cá biết làm gì".

Nguyễn Thanh Tùng, tài công trẻ tuổi mà tôi gặp ở nhà tù thành phố Batam, cũng nói như đinh đóng cột: "Về nhà, tui lại đi biển".

Tùng đã ngồi tù bảy tháng ở Malaysia năm 2000, nay tiếp tục chịu án ba năm ở Indonesia, thế nhưng máu chài lưới vẫn bừng bừng trong đôi mắt.

Cười thật thà để lộ chiếc răng cửa gãy trong một lần ẩu đả, Tùng tâm sự: "Tui buộc cái dây vào chai nước suối, tung tung đẩy đẩy, tập thể dục hàng ngày đặng sau này về có sức khỏe mà đi biển."

"Chứ cơm trại tù ngày hai bữa, toàn khoai mì mà suất cơm chưa đầy nắm tay, sức đâu ra."

"Thế nhưng từ bây giờ không dám vào biển Indonesia nữa."

Có tín hiệu đáng mừng là giới chức Việt Nam và Indonesia đang đi tìm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn nạn xâm phạm ngư trường hai bên. Mời quý vị đọc bài tiếp theo của Hồng Nga trên BBCVietnamese.com

Bấm Quý vị bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Kiều hối và mâu thuẫn của Ngân hàng Thế giới




23/07/2009

Kiều hối là một phần hết sức quan trọng trong cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Ý nghĩa đặc biệt của nó còn nằm ở chỗ Việt Nam trong nhiều năm gần đây luôn là một nước nhập siêu và vì thế cần nguồn ngoại tệ mạnh để bù vào khoảng trống trong cán cân thương mại.

Báo chí Việt Nam hồi giữa tháng 7 mới đưa tin cho biết lượng kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay có thể lên tới khoảng $5.8 tỉ tới $6 tỉ Mỹ kim. So với lượng kiều hối của năm ngoái ($7.2 tỉ) thì kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay giảm khoảng 20% .

VN la mot trong 10 nuoc nhan nhieu kieu hoi nhat the gioi
Hình: Việt Nam là một trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới. Nguồn: World Bank

Ngân hàng Thế giới trong một báo cáo hồi giữa tháng 6 nhận xét về khoản kiều hối này như sau:

“Ở các nước Đông Á khác, kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và do đó kiều hối dự báo sẽ bị ảnh hưởng theo. Ở Việt Nam, kiều hối phần nhiều do cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài lâu năm gửi về, những người này tương đối khá giả và hiện nay đang đầu tư về nước, đôi khi gắn với kế hoạch nghỉ hưu của họ. Do vậy dòng kiều hối có thể sẽ giảm ít hơn so với các quốc gia khác trong khu vực.”

Thế nhưng cũng theo số liệu của ngân hàng thế giới thì kiều hối đổ vào các nước đang phát triển trong năm 2009 sẽ vào khoảng $304 tỉ Mỹ kim, giảm từ 7% tới 10% so với năm ngoái (báo cáo Migration and Development Brief, July 2009 ). Báo cáo này cũng nhìn nhận:

“Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.”

Rõ ràng là 2 báo cáo nêu trên của Ngân hàng thế giới có sự mâu thuẫn. Kết hợp với số liệu về kiều hối mà Việt Nam vừa công bố thì:

1. Hai báo cáo này nhận định ngược nhau. Báo cáo số một thì nói “kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu” trong khi đó báo cáo số 2 thì lại nói “Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.” Thế mới biết dân nghiên cứu kinh tế đôi khi cũng hay ăn ốc (nói mò) và thi thoảng kiêm luôn nghề thày bói xem voi.

2. Kiều hối vào Việt Nam trong năm 2009 giảm sâu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (20% so với từ 7% tới 10%). Sự trênh lệch này có lẽ là một sự bí ẩn khó giải thích?

Sunday, August 9, 2009

Cột điện cháy ngùn ngụt, hàng trăm người hoảng loạn


(Dân trí) - Hai trụ điện trước số nhà 206 Hoàng Văn Thụ, phường 4, quận Tân Bình bất ngờ chập điện, phát nổ kèm theo cháy lớn làm hàng trăm người đi đường bỏ chạy toán loạn.

Hơn chục công nhân được huy động tới khắc phục sự cố
Vụ việc xảy ra vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 8/8, đám cháy làm mất điện, đứt liên lạc cửa hệ thống truyền hình cáp, cáp viễn thông, điện thoại khu vực này nhiều giờ liền.

Nguyên nhân ban đầu được xác định có thể là do chập điện. Một số người dân ở đây cho biết, lúc đó nghe một tiếng nổ lớn khi chạy ra thì thấy mọi người chạy toán loạn, nhìn lên thì thấy cột điện đang bốc cháy ngùn ngụt, nhưng do ngọn lửa bốc quá nhanh nên không thể dập lửa.
Dây cáp, dây điện đứt ngổn ngang xuống đường

“Ngọn lửa ở quá cao mà bình chữa cháy của chúng tôi thì không thể xịt tới nên đành bất lực, cũng may mọi người chạy ra ngoài hết và đường điện cao áp không bị ảnh hưởng nên không có ai bị thương” - một bảo vệ tham gia chữa cháy cho biết.

Ngay sau khi xảy ra sự cố cơ quan chức năng đã có mặt tại hiện trường để khắc phục sự cố, đồng thời cũng biểu dương tinh thần tham gia cứu hỏa của người dân nơi đây.

Lửa ở cột điện cháy lan sang cả biển quảng cáo.

Trung Kiên


Chợ búa thời... chuyển đổi


Lao Động Cuối tuần số 32 Ngày 09/08/2009 Cập nhật: 4:32 AM, 09/08/2009
Chợ Đồng Xuân (Hà Nội).
(LĐCT) - Trong tiếng Việt 2 chữ "chợ búa" ghép lại với nhau được tất cả các từ điển giải nghĩa là "chợ nói chung", "nơi họp chợ nói chung".

Còn chữ "chợ" thì đã rõ, là nơi người ta đến để trao đổi buôn bán hàng hoá với nhau. Như thế có lẽ khi dùng hai chữ "chợ búa" cũng là để nói về cái nghĩa rộng và tính đa dạng của của chợ. Bởi lẽ ngoài cái tên riêng được dùng như một địa danh như chợ Đồng Xuân, chợ Bến Thành, chợ Đông Ba... thì chợ có rất nhiều loại hình gắn với những loại hàng hoá được coi là mặt hàng chủ yếu hay đặc sản. Ví như chợ trâu, chợ vải, chợ gốm, chợ cá, chợ củi...rồi thậm xưng lên một chút, nơi bán sức lao động cơ bắp thì gọi là "chợ người", lại có thứ nói pha chút văn nghệ thì còn có cả "chợ tình"...

Chợ là một sinh hoạt kinh tế, là địa điểm để buôn bán trao đổi hàng hoá nhưng cũng còn là nơi giao lưu văn hoá, đôi khi cả tâm linh (như chợ Viềng). Chợ họp theo phiên với một tần suất thích hợp để trong một vùng ngày nào cũng có nơi họp chợ thoả mãn cho cư dân. Chỉ có những chợ lớn ở những nơi nhu cầu buôn bán cao, dân cư đông đúc, chủ yếu ở đô thị mới họp quanh năm, suốt tháng, mọi ngày.

Về quy mô, có chợ ở chốn làng quê và chợ ở nơi đô thị. Chợ quê đáp ứng cho số đông cư dân trong các làng của một vùng có thể mua hoặc bán những nhu yếu phẩm do mình làm ra hay cần đến. Nó thường chọn ở những nơi cửa ngõ giao thông dễ đi lại, nhất là gần đường cái quan hay những con sông. Xưa kia, chợ không ở sâu trong làng mà ở ngoài rìa hoặc ngoài hẳn cánh đồng để cho những cái ngoại lai không ảnh hưởng đến "đất lề quê thói" đã thâm căn cố đế trong làng quê của mình.

Điểm họp chợ từ đời này sang đời khác ít thay đổi vì tập quán ở làng quê vốn bền vững. Đọc sử sách, thấy thời của ông "Vua luật pháp" Lê Thánh Tông đời Hồng Đức có điều luật quy định nơi nào muốn lập chợ mới hay chia chợ cũ phải xem xét kỹ rồi tấu lên để triều đình quy định. Như thế là chặt chẽ cả theo lề thói của tập quán và theo luật lệ của nhà nước chứ không phải tuỳ tiện. Còn chợ họp theo quy luật "nơi có cầu khắc có cung" là "chợ cóc", nó "nhảy" theo nhu cầu của khách hàng.

Khảo sách xưa thấy chợ búa và sinh hoạt của chợ giống như một màng lưới chằng chịt nhưng lại vô cùng hợp lý về sự phân bố, tựa như mạch máu trên một cơ thể. Tất cả nền kinh tế của nước Việt Nam truyền thống tồn tại nhờ sự vận hành của hệ thống chợ. Nó không chỉ nuôi sống kẻ mua người bán mà nó còn nuôi cả bộ máy chính quyền ở địa phương nhờ vào thuế chợ. Sự giao lưu văn hoá cũng "ăn theo"chợ.

Ở VN, đô thị đã không nhiều lại vẫn mang đậm dáng dấp của những cái làng lớn. Ngay Thăng Long hay Hà Nội trước khi người Pháp cai trị vẫn được mệnh danh là "Kẻ Chợ". Cung cách buôn bán vừa là nơi giao thương cho dân tứ chiếng nhưng lại xuất hiện những phường hội của các làng nghề lên lập nghiệp. Các làng đưa người, đưa thợ và đưa cả đình làng và ban thờ ông thành hoàng hay tổ nghiệp lên phố. Mỗi nghề nghiệp mang tên một "Hàng" (sau này khi người Pháp quy hoạch trở thành phố).

Đọc sách người Tây mô tả, thì trước khi bị Pháp đô hộ, chợ ở Thăng Long - Hà Nội vẫn họp ở những địa điểm truyền thống đồng thời rải khắp vỉa hè của các phố phường. Hình ảnh của loại "chợ cóc" được mô tả là rất phổ biến, khiến mỗi lần có quan quân đi qua là một lần náo loạn, kẻ mua người bán chạy dạt sang hai bên để mở đường, gặp ao hồ cũng phải nhảy ào xuống nước. Cái loại hình "chợ cóc" có lẽ là một nét truyền thống đến nay vẫn dai dẳng tồn tại ngay trong thành phố hiện đại của chúng ta.

Đến thời Tây sang, ngoài việc quy hoạch lại các thành phố theo lề lối phương Tây, có hạ tầng đường, hè, cống, rãnh và đèn chiếu sáng nhưng họ có ý ý thức tôn trọng những tập quán bản địa nên không những không xoá bỏ các chợ cũ mà còn quy hoạch và xây mới.

Ở Hà Nội, những chợ cũ nổi tiếng như Đồng Xuân (Cầu Đông), Cửa Nam, Đức Viên (chợ Hôm), chợ Mơ... được xây dựng kiên cố. Hơn thế nữa họ vẫn coi những cái chợ đó là cái "dạ dày" nuôi sống thành phố do vậy chúng ta thấy từ rất sớm, trước khi có các loại phương tiện giao thông cá nhân như xe đạp, xíchlô hay ôtô... thì 5 tuyến xe điện đã được xây dựng nối liền các cửa ô với tất cả các chợ quan trọng để đưa hàng hoá và chở người, kích thích các hoạt đông buôn bán của thành phố.

Ở Hà Nội, cũng như ở tất cả các thành phố lớn trên đất nước ta thời Pháp thuộc thì ngoài kiến trúc công sở và khu phố Tây dành cho người Âu, kiến trúc của các chợ là tiêu biểu nhất cho các công trình dân dụng dành cho người bản xứ. Chợ Đồng Xuân ở Hà Nội, chợ Đông Ba ở Huế, Chợ Bến Thành ở Sài Gòn, Chợ Rồng Nam Định, Chợ Sắt Hải Phòng... đều là những kiến trúc vừa kiên cố, vừa đẹp lại vừa phù hợp với những tập quán truyền thống trong giao dịch kinh tế của người bản địa. Tên gọi và kiến trúc của những cái chợ đó thường trở thành biểu trưng của mỗi địa phương.

Nói như vậy để liên hệ với những chuyển đổi ở các đô thị thời nay. Kinh tế thị trường phát triển chưa bao giờ mạnh mẽ như bây giờ. Hệ thống bán lẻ và các siêu thị mọc lên như nấm nhưng dường như vẫn chưa làm cho các chợ truyền thống bị lỗi thời.

Nhưng cái thách thức lớn nhất lại chính từ phía các nhà quản lý và sức ép của giá trị đất đai mà những ngôi chợ thường là những địa điểm đắt giá nhất. Vì thế mà chúng ta chứng kiến các ngôi chợ bị khai tử một cách không thương tiếc vì sự kém quan tâm đến những giá trị văn hoá mà chỉ quan tâm đến giá trị của đất đai và thu nhập ngân sách của địa phương.

Đang có một chiến dịch "siêu thị hoá" các chợ thực chất chỉ là chuyển đổi quyền sử dụng đất (không gian) có lợi nhất cho các nhà quản lý. Ở thủ đô Hà Nội, bắt đầu từ chợ Bưởi, rồi đến chợ Ngã Tư Sở, nay chợ Cửa Nam, chợ Hàng Da đã bị đập, sắp tới sẽ là chợ Hôm (lần thứ hai) rồi chợ Mơ, và ngay cả chợ Đồng Xuân đã qua mấy lần thay đổi cũng sẽ trở thành một siêu thị buôn bán theo kiểu Âu-Tây, những cao ốc chủ yếu để khai thác giá trị mặt bằng... Ở Đồng Nai, chợ Long Khánh, chính quyền "quy hoạch" lại cũng chỉ chưa đầy 1/10 diện tích làm chợ, còn thì chuyển đổi thành siêu thị và khu đô thị bán để thu được nhiều cho ngân sách...

Theo đà này thì rồi các chợ quê cũng khó tránh khỏi làn sóng đô thị hoá đang diễn ra khắp nơi... Liệu đó có thể coi đó là sự tiến bộ trong phát triển hay không?

Dương Trung Quốc

Xuất khẩu lao động: 'Dân phải tự bảo vệ mình'

Cập nhật lúc 16:11, Thứ Sáu, 07/08/2009 (GMT+7)
,

- Khẳng định việc tuyển dụng xuất khẩu lao động vẫn đang được kiểm soát, song Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước Nguyễn Ngọc Quỳnh khuyên người dân phải biết "tự bảo vệ mình".

Ông Quỳnh đã phải trả lời hàng loạt câu hỏi của Ủy ban các vấn đề xã hội sáng nay (7/8) tại cuộc hội thảo về thực hiện chính sách pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, được tổ chức sau khi Ủy ban kết thúc đợt khảo sát tại địa phương.

Tiêu cực chưa bị nghiêm trị

Mô tả ảnh.

Ông Đặng Như Lợi (trái): Nhà quản lý chưa thấy trách nhiệm của mình... Ảnh: LAD

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 85% số người lao động hài lòng khi đi xuất khẩu về. Có những nơi, 60 - 70% nhà được xây kiên cố, cao tầng, khang trang là từ tiền của đội ngũ đi xuất khẩu.

Tuy nhiên, không ít hạn chế đã được đoàn khảo sát chỉ ra.

Đó là, vẫn đang có quá nhiều tổ chức nhà nước, tư nhân được cấp phép. Sự lẫn lộn tốt xấu khiến người dân không biết đằng nào mà lần, chưa kể DN mở quá nhiều chi nhánh ở địa phương, tuyển lao động qua môi giới.

Chính Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) Nguyễn Ngọc Quỳnh thừa nhận, Cục vẫn chưa có hệ thống chỉ tiêu đánh giá DN nào hoạt động hiệu quả, DN nào không.

Tuy nhiên, trao đổi với VietNamNet, ông Quỳnh cho rằng, với những DN vừa cấp phép, chuyện chưa có ngay hợp đồng là bình thường. "Nếu trong vòng 1 năm không đưa được lao động đi thì mới thu hồi giấy phép".

Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước nói, một năm nay, chưa rút giấy phép của DN nào vì không hề phát hiện ra vi phạm.

Theo đoàn khảo sát, nhiều đơn vị khoán trắng cho chi nhánh, trung tâm, liên kết tràn lan. Việc dạy nghề và ngoại ngữ làm qua loa, chiếu lệ. Phí môi giới, phí quản lý không được công bố rõ ràng. Doanh nghiệp và tổ chức thiếu trách nhiệm trong bảo vệ quyền lợi người lao động.

Thống kê cho thấy, chi phí đi lao động xuất khẩu cao gấp 1,5 - 2 lần, thậm chí có thị trường cao gấp 10 lần so với thông báo của DN tuyển.

Ngay những DN đã cầm chắc được đưa người lao động ra nước ngoài cũng còn phải đối mặt với tình thế bấp bênh là các hợp đồng lao động có thể chấm dứt trước thời hạn vì gần như DN chỉ tìm kiếm hợp đồng thông qua môi giới ở nước ngoài.

"Hiện chưa có biện pháp thẩm tra chặt chẽ thực lực các đơn vị xin cấp phép cũng như quản lý chất lượng hoạt động. Đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước chưa có biện pháp xác minh chất lượng các hợp đồng. Nhà quản lý cũng chưa thấy trách nhiệm của mình về việc đã chấp thuận cho các hợp đồng cung ứng lao động không bảo đảm chất lượng, gây thiệt hại cho dân", Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội QH Đặng Như Lợi nói.

Đưa ra số liệu 164 DN tổ chức xuất khẩu lao động "lẫn lộn tốt xấu", trong đó, tính đến tháng 6/2009, 29 doanh nghiệp "không đưa được bất kỳ lao động nào đi", ông Lợi không ngần ngại nhận xét: "Tiêu cực trong công tác quản lý còn chưa được chấn chỉnh để nghiêm trị. Vẫn phổ biến tình trạng cấp giấy giới thiệu, công văn cho doanh nghiệp đi xuống huyện, xã để tuyển người".

Đến thẳng Bộ Lao động nếu bị lừa

Mô tả ảnh.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: Bộ Lao động vẫn đang kiểm soát việc tuyển dụng lao động ra nước ngoài. Ảnh: LN

Chủ nhiệm Ủy ban Trương Thị Mai và các thành viên đã chất vấn Cục trưởng Nguyễn Ngọc Quỳnh để làm rõ vai trò quản lý nhà nước, khả năng kiểm soát khi để xảy ra hàng loạt vi phạm về tuyển lao động đi xuất khẩu, dẫn đến bi kịch ở nhiều vùng quê, như dư luận phản ánh.

Tuy khẳng định việc tuyển dụng "vẫn đang được Bộ kiểm soát", nhưng ông Quỳnh cũng thừa nhận, trong số 164 DN, chỉ 30% đưa được nhiều lao động xuất ngoại và ít có vi phạm.

Trước những câu hỏi dồn dập của bà Trương Thị Mai, ông Quỳnh công nhận: "Theo luật thì các DN chỉ được mở ba chi nhánh nhưng có nhiều địa phương đã mở ra rất nhiều văn phòng đại diện".

Điều mà Ủy ban quan tâm là hàng loạt người dân đã dốc hết gia sản để "chạy" được một suất đi nước ngoài, nhưng khi bị lừa gạt, hoặc DN phá sản, ôm tiền, họ không biết đằng nào mà lần.

Các tổ chức, cá nhân đã nhập nhằng lập nên những "trung tâm" hoặc "công ty cung ứng LĐ", đánh vào tâm lý của người dân sẵn sàng mất tiền để được đưa đi.

Trao đổi với báo giới, ông Quỳnh khẳng định: "Khi xảy ra chuyện các chi nhánh, trung tâm giải thể, ôm tiền, người lao động có thể hỏi thẳng DN, hỏi chính quyền và thậm chí đến thẳng Bộ Lao động".

Nhưng, chính ông Quỳnh cũng chốt lại: "Người lao động phải tự tìm cách bảo vệ chính mình".

Theo thống kê từ 1/7/2006 đến 6/2009, chỉ có 81 DN đưa được trên 500 lao động ra nước ngoài, trong đó có 54 DN đưa được trên 1.000 người.

16 DN đưa được dưới 100 lao động, 29 DN không đưa được lao động nào.

  • Lê Nhung

Con nhà giàu ở Úc

Lao Động Cuối tuần số 32 Ngày 09/08/2009 Cập nhật: 12:37 AM, 09/08/2009
(Ảnh minh hoạ - RAV)
(LĐCT) - Gia đình giàu có, quyền thế, bản thân lại học hành tới nơi tới chốn cộng với vốn ngoại ngữ khá, họ có một bệ phóng vững chắc khi trở về nước làm việc, thế nhưng một số người vẫn muốn ở lại Úc.

"Cậu ấm cô chiêu" nay đã biết sống hoà đồng cùng tập thể, biết chia sẻ việc nhà với những sinh viên khác

Cậu ấm đi cọ toalét

Ở Việt Nam, "ấm" là "con cốp", nhà mặt phố rộng thênh thang, bố làm to. "Ấm" du học Úc đã được hơn năm năm và đã có PR (thường trú) nhưng ra trường vào đúng thời điểm kinh tế suy thoái, chưa xin được việc làm nên đành đi làm tạm công việc quét dọn văn phòng.

"Ấm" bảo rằng chuyện đó "nhỏ như con thỏ" vì từ hồi du học đến giờ "ấm" cũng đã từng trải qua rất nhiều việc làm thêm khác nhau, kể cả công việc phụ bếp tương đối nặng nhọc so với vóc dáng thư sinh "trói gà không chặt".

Thời gian đầu sang Úc, "ấm" toàn ra ngoài "cơm hàng cháo chợ" nhưng sau đó thấy xót tiền nên tự đi chợ và nấu nướng. Bố mẹ sẵn sàng gửi tiền sang để "ấm" chuyên tâm vào học hành nhưng cậu tự thấy mình nay đã trưởng thành nên không muốn xin tiền nữa, thay vào đó là đi làm thêm để tự trang trải cuộc sống.

Trước đây "ấm" là "gà tồ", thậm chí còn không phân biệt nổi các loại thịt cá, rau quả, hàng ngày thu mình trong "vương quốc riêng" với đầy đủ tiện nghi hiện đại, bàng quan với công việc gia đình và bình thản đi giày bẩn qua mặt Ôsin đang lúi húi lau dọn. "Âậm" nay đã học được cách tính toán, chi tiêu, biết sống hoà đồng cùng tập thể, biết chia sẻ việc nhà với những sinh viên khác.

"Cô chiêu" cũng là "thiên kim tiểu thư" trong một gia đình danh giá, đi đâu có người đưa đón, cuộc sống "êm đềm trướng rủ màn che" trong nhung lụa và tuyệt nhiên chưa bao giờ phải đụng tay vào việc nhà. Trong thời gian học ở Úc, "cô chiêu" đã từng đi bán hàng, đếm xe, xếp thức ăn vào hộp trong một hiệu bán đồ ăn nhanh.

"Cô chiêu" tốt nghiệp thương mại và hiện đang làm tiếp tân trong một công ty nhập khẩu với mức lương khởi điểm khá thấp so với mặt bằng chung. "Cô chiêu" cho biết tuy tiền lương chỉ đủ để chi tiêu và mua vé máy bay về thăm gia đình hàng năm nhưng cô cũng tạm hài lòng vì ít ra cô đã biết sống tự lập, biết lo toan cho cuộc sống của chính mình.

Những "cậu ấm cô chiêu" như thế không phải là hiếm. Gia đình giàu có, quyền thế, bản thân lại học hành tới nơi tới chốn cộng với vốn ngoại ngữ khá, họ có một bệ phóng vững chắc khi trở về nước làm việc, thế nhưng một số người vẫn muốn ở lại Úc.

"Con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đó"

Tuấn, một công tử thuộc hàng 4C - "con cháu các cụ", cho biết bố mẹ không đồng ý cho cậu ở lại vì "ở nhà sướng gấp trăm lần, lại được nâng đỡ trong sự nghiệp". Bố mẹ Tuấn không muốn con vất vưởng, không có công ăn việc làm nơi đất khách nên "dụ" sẽ mua cho nhà mới, xe mới, miễn là cậu đồng ý quay về nhưng Tuấn vẫn không đồng ý. Bạn hóm hỉnh: "Chỉ nguyên việc em không nghiện ngập, hút sách thôi là bố mẹ em đã mừng rơi nước mắt rồi. Huống hồ còn biết là em ở bên này chăm chỉ đi làm thế này thì còn "ngất trên cành quất!".

Hạnh - con gái của một đại gia ở Hà Nội - kể lại, sau khi biết "cục cưng" ở Úc phải vất vả với công việc trái nghề, bố mẹ cô đã ra "nghị quyết" bắt cô phải về.Tuy nhiên cô vẫn quyết định ở lại, "về lúc nào chả được, có phải lo nghĩ gì đâu". Do đó, Hạnh có tâm lý rất thoải mái khi làm việc trái nghề vì nếu thích thì cô hoàn toàn có thể về nước để ăn sung, mặc sướng bất cứ lúc nào.

Hải là con một gia đình buôn bán, nhà mặt phố, bố không làm to nhưng giàu có. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư ở Úc, anh đã về Việt Nam làm việc một thời gian nhưng rồi lại quay sang Úc. Hải cho biết anh đang xin mấy chỗ, kể cả việc đi đòi nợ thuê mà chả thấy nơi nào gọi. Khi được hỏi bố mẹ anh có ý kiến gì về việc quay sang Úc của anh, Hải cười to: "Không đồng ý nhưng cũng phải chiều thôi, thời buổi "con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy" mà".

Đi lên bằng đôi chân của mình

Với các mối quan hệ rộng rãi của bố mẹ, những "cậu ấm cô chiêu" hoàn toàn có thể có được một công việc tốt nếu trở về nước làm việc. Tuy không được gia đình ủng hộ nhưng tại sao họ vẫn quyết định ở lại Úc làm việc?

"Em chưa về vì không thích bị mọi người nói là có ô dù của bố", Tuấn tâm sự. Tuy nhiên lý do chính của Tuấn lại là "về nhà tất nhiên em sẽ tự đi xin được việc nhưng "ông già" em phátxít lắm, dân quân đội mà, bảo làm chỗ nào là phải vào chỗ đó".

Hạnh và Hải thì muốn đi làm để lấy kinh nghiệm ở nước ngoài. Theo hai bạn, nếu nhờ vào các mối quan hệ của bố mẹ thì cũng chỉ làm việc ở những công ty nhà nước mà thôi. "Làm bộ này, bộ nọ thì cũng phải mất ít nhất chục năm đầu pha trà, pha nước", Hải cho biết. Đã từng đi làm cho một bộ ở Hà Nội nhưng anh lại "nhảy" ra chỉ sau vài tháng làm việc vì "làm công ty nước ngoài lương cao hơn, lại đỡ phí vốn tiếng Anh".

Nhiều sinh viên cho biết rất thích môi trường làm việc năng động và thân thiện ở Úc. Hạnh chia sẻ "tớ chỉ là tiếp tân thôi nhưng cũng được mọi người quý mến và đối xử tốt lắm". Vì vậy, Hạnh dự định sẽ tiếp tục làm việc này để quen dần với môi trường công sở và nâng cao vốn tiếng Anh cũng như khả năng giao tiếp với khách hàng và điều này cũng giúp ích nhiều cho công việc chuyên môn sau này.

"Con nhà giàu vượt khó" là cái "mác" mà các bạn thường nói vui về mình. Tự lập và không ngại khó, ngại khổ, những người trẻ ấy vẫn đang tìm cơ hội để đi lên bằng chính đôi chân của mình.

Hoa Hạ (Theo bayvut.com, 7.7.2009)

11 ngư dân mất tích trên biển Trường Sa

Chiều 8/8, Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi Bùi Phụ Phú cho biết, từ hôm 25/7 đến nay, tàu của ông Huỳnh Văn Đậu gồm 11 người đã mất tích lúc hành nghề trên biển Trường Sa.
> Nỗi lòng những người vợ ngóng chồng bị bắt ở Hoàng Sa

Theo ông Phú, tàu của ông Đậu ở xã Phổ Vinh, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), xuất bến tại cửa biển Mỹ Á ngày 8/7, hành nghề đánh bắt xa bờ ở các vùng biển phía Nam.

Sau gần nửa tháng các đài canh không thể liên lạc được với tàu ông Đậu, đến chiều 7/8, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện Đức Phổ đã gửi văn bản báo cáo kiến nghị các ngành chức năng Quảng Ngãi đề xuất giải pháp tìm kiếm.

Vũ khí hạt nhân Trung Quốc

Hình một lần thử tên lửa của Trung Quốc năm 1996-hình AP

Một báo Trung Quốc nói giới chuyên gia quân sự nước này đã đạt được đồng thuận về chiến lược mới về nguyên tắc trả đũa bằng vũ khí hạt nhân.

Theo báo cuối tuần Nam Phương ra ở Quảng Đông gần đây, giới nghiên cứu quân sự Trung Quốc cho rằng học thuyết "Phản công hạn chế" có từ năm 1964 cần phải được xem xét lại.

Họ đề nghị tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và làm rõ hơn khả năng để quân đội Trung Quốc "phản công tự vệ" thật nhanh chóng.

Bài báo cho rằng sau khi Trung Quốc thử thành công vũ khí nguyên tử năm đó, các nhà lãnh đạo duy trì nguyên tắc không tấn công trước bằng tên lửa hạt nhân.

Đó cũng là quan điểm phổ biến trên thế giới vào thập niên 1960-70 cho rằng vũ khí hạt nhân chủ yếu có tác dụng răn đe, phòng ngừa chứ không phải đem ra sử dụng.

Vẫn theo bài báo, lãnh tụ Đặng Tiểu Bình, khi phát biểu về chiến lược cho ngành tên lửa và pháo binh Trung Quốc tháng 5/1984, đã nhấn mạnh nguyên tắc này một lần nữa.

Từ đó tới gần đây, dù cách dùng từ có khác đôi chút, Trung Quốc vẫn chỉ duy trì khả năng "Phòng ngừa có hiệu quả" (effective deterrence).

Vành đai vũ khí hạt nhân lớn nhất và dày đặc nhất thế giới đang bao vây quanh Trung Quốc

Tướng Bành Quang Khiêm

Nhưng nay, giới quan sát tại Trung Quốc cho rằng Hoa Kỳ và Nga (dưới thời Putin) đã thay đổi cách nhìn và chuyển sang nguyên tắc ‘đánh phủ đầu’ (pre emption).

Bài báo nói tháng 10/2005, trong cuộc gặp với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Donald Rumsfeld, Tướng Tĩnh Chí Viễn, Tư lệnh Pháo binh Trung Quốc đã giải thích tư duy chiến lược hạt nhân của phía mình.

Những gì ông phát biểu được hoàn chỉnh thành một chiến lược vũ khí nguyên tử cho Trung Quốc hiện nay.

Năm 2008, tài liệu của Trung Quốc công bố đã thay đổi chiến lược hạt nhân thành “tự vệ”.

Theo lời trích trên báo Nam Phương bản 17/06/2009 nhưng nay mới được giới quan sát Phương Tây tìm ra và chuyển ngữ sang tiếng Anh thì Trung Quốc giao cho lực lượng tên lửa và pháo binh của họ nhiệm vụ gồm hai kỳ đoạn:

Thứ nhất, nếu Trung Quốc bị đe dọa bằng vũ khí nguyên tử thì lực lượng của họ “sẽ chuyển sang tình trạng báo động, sẵn sàng phản công bằng vũ khí hạt nhân nhằm cảnh cáo, răn đe kẻ thù trước việc định dùng vũ khí hạt nhân tấn công Trung Quốc”.

Nhưng nếu Trung Quốc bị tấn công hạt nhân, thì “lực lượng tên lửa-pháo binh của Trung Quốc sẽ phóng vũ khí hạt nhân đáp trả̉".

Cuộc phản công của họ sẽ được thực hiện cùng lúc hoặc độc lập với vũ khí hạt nhân của các quân binh chủng khác.

Vì sao thay đổi?

Chuyển biến trong tư duy quân sự Trung Quốc về vũ khí hạt nhân, như bài báo giải thích, đến từ cách họ nhận định tình hình quốc tế và nghiên cứu các cuộc chiến trước đây.

Tên lử Agni của Ấn Độ-hình AP năm 1999

Việc Ấn Độ tăng cường quân sự khiến Trung Quốc hết sức quan tâm

Bài báo cũng nói tình hình bán đảo Triều Tiên “đang diễn biến xấu nhanh chóng và có vẻ như một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân lớn ở vùng Đông Bắc Á là không tránh khỏi”.

Trang Nam Phương trích lời Tướng Bành Quang Khiêm của Quân đội Trung Quốc cho rằng hiện nước này đã bị “bao vây bởi vành đai dày đặc về vũ khí hạt nhân”, với con số ước tính khoảng 22.530 đầu đạn.

Mặt khác, tổng kết kinh nghiệm các cuộc chiến giữa Trung Quốc với Ấn Độ (1964) và với Việt Nam (1979) nhà nghiên cứu, Giáo sư Vệ Quốc An cho đó là các cuộc “phản công tự vệ” (defensive counterattack).

Theo ông, cách đặt vấn đề như thế có thiếu sót, cũng như cách hiểu thế nào là “chiến tranh phòng ngừa”.

Mặt khác, Trung Quốc cũng cho rằng sau khi Hoa Kỳ đưa ra chương trình lá chắn hỏa tiễn, hiệu quả của các tên lửa đạn đạo (ICBM) không còn được như trước.

Họ tin rằng hệ thống chống hỏa tiễn do Mỹ triển khai tại Tây Thái Bình Dương có khả năng dễ dàng bắt được tên lửa đạn đạo vừa phóng lên, khi trong chu kỳ bay chậm.

Hơn nữa, giới nghiên cứu quốc phòng Trung Quốc cũng thừa nhận nước này chưa có các vệ tinh cảnh báo sớm trước tấn công của tên lửa (missile early-warning satellites).

H ọ cũng lo ngại rằng Hoa Kỳ với thuyết đánh phủ đầu hoặc tấn công phòng ngừa sẽ có thể ra tay trước bằng vũ khí tên lửa, một khi mục tiêu của Mỹ, có thể chỉ cần hàng không mẫu hạm bị “đe dọa” mà thôi.

Bằng cách nâng cấp học thuyết chiến tranh hạt nhân lên một bậc, Trung Quốc, như lời một chuyên gia từ Đại học Quốc phòng nói với báo Nam Phương, Trung Quốc phải làm rõ rằng nước này sẵn sàng “trả đũa bằng vũ khí nguyên tử một khi bị tấn công”.

Hàng trăm "bẫy há miệng" chờ chân người


Đã có không ít tai nạn thương tâm, thậm chí là tử vong khi người đi đường vô tình sa chân vào những hố ga mất nắp trên địa bàn Hà Nội. Tuy vậy, ở KĐT Cầu Giấy (Hà Nội) chúng vẫn tồn tại... như thể "đánh đố" người dân.

Cách đây hơn một năm, tuyến đường Nguyễn Phong Sắc (Cầu Giấy, Hà Nội) kéo dài từng là điểm nóng với hàng chục hố ga mất nắp, rác thải xây dựng đổ tràn làn. Hiện nay, tuy tình hình đã khá hơn trước nhưng thực trạng hố ga mất nắp vẫn còn rất nhức nhối đối với người dân nơi đây. Hiện tại, trên đoạn đường dài khoảng 500m cũng có tới hàng chục hố ga mất nắp. Cái to có, cái nhỏ có vẫn trống hoác "trơ gan cùng tuế nguyệt".


Hố ga mất nắp lộ thiên

Nằm cạnh đường Nguyễn Phong Sắc kéo dài là một bãi đất hoang rộng hàng ngàn m² thuộc khu ĐTM Cầu Giấy (phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy). Mặc dù đã có một vài đơn vị bắt tay vào thi công các dự án nhưng hạ tầng cơ sở vẫn chưa được đầu tư.

Hệ thống điện ở đây vẫn chưa hoạt động còn lòng đường thì ngổn ngang gạch đá, rác thải và chềnh ềnh hàng trăm hố ga mất nắp. Toàn bộ vỉa hè đã bị cỏ dại xâm lấn, mọc cao quá đầu người. Người dân khu vực xung quanh cũng phải rùng mình khi đi qua khu vực này.

Tuy đây là khu vực nguy hiểm nhưng hầu như không có biện pháp ngăn cản nào để người dân không vào khu vực này. Chỉ duy nhất có vài tấm bê tông chắn với dòng chữ cảnh báo “Khu vực nguy hiểm! Cấm vào” nhưng cũng bị cỏ dại che lấp gần hết. Rào chắn sơ sài nên đường vẫn đủ rộng cho hai xe máy vào cùng một lúc.

Chình ình ngay sau tấm biển cảnh báo là một hố ga mất nắp từ vài năm nay, cỏ cũng đã mọc xanh nơi miệng hố. Càng đi sâu vào bên trong, số lượng hố ga mất nắp ngày càng nhiều. Dành cả tiếng đồng hồ đi bộ quanh khu vực này, tuyệt nhiên PV VTC News không tìm một hố ga nào có nắp. Ước tính có khoảng hơn năm chục hố ga không nắp. Hố ga được coi là an toàn nhất ở đây cũng chỉ được che đậy hết sức thủ công bằng một cành cây cắm vội.


Chình ình ngay sau tấm biển cảnh báo là một hố ga mất nắp từ vài năm nay, cỏ cũng đã mọc xanh nơi miệng hố.

Mỗi hố trung bình có đường kính khoảng hơn 1m và sâu khoảng 2m, có cái lại dài và sâu nằm sát lề đường. Những chiếc “bẫy” này cũng được bố trí rất thẳng hàng, chăng kín lối đi rộng chừng hơn 2m. Thường thì là một tổ hợp với 3 chiếc bẫy gồm một “bẫy chính” nằm giữa đường và hai “ bẫy phụ” hình chữ nhật nằm hai bên.

Những chiếc “bẫy” này có lúc được đặt ngang, hay có lúc được xoay dọc tùy theo từng đoạn đường. Do không có nắp đậy nên các hố ga nhanh chóng biến thành nơi chứa rác thải, vỏ bánh kẹo, bơm kim tiêm...

Chị Nga bán hàng nước ở gần đó cho hay các hố này tồn tại đã lâu, dân qua đây nhiều cũng quen rồi, phải chăm chăm mà tránh nó ra không thì chỉ có thiệt thân.


Nguy hiểm rình rập...

Theo những người dân hay tập thể dục ở đây cho biết do khu vực này thi công còn dang dở nên những hố ga cũng bị bỏ quên từ rất lâu rồi. Lâu nay rồi cũng không thấy đơn vị nào xem xét đậy chúng an toàn trở lại. Thậm chí có miệng hố bằng kim loại còn bị trộm lấy mất giờ chỉ còn trơ lại gạch và vữa.

Khu vực này vào ban đêm lại càng nguy hiểm. Do nơi đây còn khá vắng vẻ nên buổi chiều tối nhiều đôi bạn trẻ thường vào đây “tâm sự”. Có đôi mải mê nói chuyện khi gặp hố lớn đã trở tay không kịp mà đổ xe, chân tay thâm tím, xước sát.

Cũng đồng tình với ý kiến của nhiều người, ông Chiến (phường Dịch Vọng Hậu - Cầu Giấy) tỏ ra rất khó chịu vì những cái hố nguy hiểm chết người này. Chiều nào ông cũng ra đây đi bộ song lúc nào cũng phải để ý quan sát dưới chân để khỏi bị “sa” vào bẫy. Ông sống ở khu chung cơ gần đó, nếu không ra đây tập thể dục thì cũng không còn chỗ nào. “Tôi vẫn thường nhắc nhở những đứa cháu ở nhà không được bén bảng vào khu vực nguy hiểm này” - Ông Chiến chia sẻ.

Cỏ lau ở đây khá phát triển, vì vậy mỗi buổi chiều không ít sinh viên, học sinh tìm đến để chụp ảnh hay vặt bông lau về chơi. Đây thực sự là một ẩn hoạ đối với mọi người nếu sơ ý sa chân lỡ bước.

Theo Phạm Thịnh (VTC)

Văn hóa Hà Nội có bị xô lệch?

Cập nhật lúc 16:35, Thứ Bảy, 01/08/2009 (GMT+7)
,

- Chúng ta không thể cưỡng lại được với xu thế hội nhập hiện nay cũng như xu thế đô thị hóa, nhưng cần phải làm gì để bảo vệ văn hóa Hà Nội, nơi hội tụ của ba vùng văn hóa đặc sắc.

Tròn một năm ngày Hà Tây sáp nhập với Hà Nội, nhiều thuận lợi đang mở ra để xây dựng một Thủ đô văn minh, hiện đại và phát triển, tuy nhiên cũng có nhiều thách thức đang đặt ra.

Mái đình Mông Phụ sau khi tu sửa (Ảnh: Nguyễn Xuân Diện).

Riêng về văn hóa, một năm nhìn lại, đã có những thay đổi và có xu hướng bị xô lệch. Về vấn đề này, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện cảnh báo “một năm mở rộng, Văn hóa Hà Nội đã ít nhiều xô lệch”. Cái xô lệch mà ông thấy là nhiều cơ sở văn hóa của tỉnh Hà Tây đã kịp biến mất. Ở nhiều nơi, cảnh quan làng đang mất dần vì những dự án xây dựng sân golf, khu công nghiệp. Nhiều người đau xót khi không còn thấy luỹ tre làng xanh, không còn không gian thoáng đãng, đẹp đẽ của cầu ao, bến nước, ao làng mà thay vào đó là kiến trúc của một cảnh quan xô bồ.

Văn hóa Hà Nội hiện nay là sự kết hợp ba vùng văn hoá: vùng văn hoá Thăng Long (trung tâm Hà Nội); vùng văn hóa Sơn Nam Thượng (các huyện phía Nam tỉnh Hà Tây cũ); vùng văn hoá xứ Đoài (vùng phía Bắc tỉnh Hà Tây cũ). Trong đó xứ Đoài là vùng có những nét văn hoá đặc sắc.

Làng là nơi cất giữ gần như toàn bộ gia sản văn hóa của tổ tiên. Kiến trúc đình, chùa, miếu và các nhà ở dân gian là kết tinh sự hiểu biết của người xưa về môi trường, kiến trúc và quan niệm về sự ở của tổ tiên chúng ta. Lũy tre xanh và cách bố trí dân cư theo hình xương cá hoặc bố trí dọc theo nguồn nước là cách tự vệ và sự tuân thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên. Đó là một triết lý của người Việt.

Những sinh hoạt văn hóa lễ hội, tín ngưỡng và văn hóa dân gian: hát, hò, vè; kiến trúc, phong tục, nền nếp gia phong dòng tộc là những tài sản văn hóa hàng ngàn đời nay đang được lưu giữ.

Tuy nhiên các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ấy cũng có thể bị mất đi theo trào lưu chung. Người dân, nhất là giới trẻ hiện nay phần nào đang quay lưng lại với di sản văn hóa phi vật thể cha ông để chạy theo lối sống mới, văn hoá "mới". Họ không trở thành những người bảo vệ văn hoá cổ mà chối bỏ, nhập vào cuộc sống mới đang được đô thị hóa rất nhanh chóng.

Chúng ta không thể cưỡng lại được với xu thế hội nhập hiện nay cũng như xu thế đô thị hóa, nhưng cần phải làm gì để bảo vệ văn hóa Hà Nội, nơi hội tụ của ba vùng văn hóa đặc sắc.

Theo bạn văn hóa Hà Nội có bị xô lệch và cần phải làm gì để bảo vệ sự đa dạng của các vùng văn hóa này?

  • VietNamNet

Quân đội với vai trò bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc

2009-08-03

Dư luận vẫn tiếp tục theo dõi và tỏ ra bức xúc về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam đang bị Trung Quốc dùng nhiều cách khống chế.

AFP photo

Một số ngư dân VN dù đang trong mùa khai thác , nhưng phải nằm bờ vì sợ bị bắt hoặc bị đánh chìm

Những sự kiện như bắt ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc hay cấm đánh bắt cá trong mùa cá ngay trong lãnh hải của Việt Nam đã dấy lên câu hỏi liệu chủ quyền của đất nước có được chính quyền bảo vệ đầy đủ hay không, và liệu Trung Quốc sẽ còn những động thái nào tiếp theo sau các vụ việc vừa qua. Mặc Lâm có bài viết về vấn đề này sau đây.

Nhân sĩ trong và ngoài nước có quan tâm đến vấn đề biển Đông đều khó thể chịu nổi những sự kiện hồi gần đây khi Trung Quốc ngày càng tỏ vẻ lộng hành hơn không những khống chế và kiểm soát một cách công khai những vùng biển đang tranh chấp mà còn ra lệnh cấm đánh bắt cá đối với ngư dân nhiều nước

Chủ trương bành trướng lộng hành của TQ

Nhân sĩ trong và ngoài nước có quan tâm đến vấn đề biển Đông đều khó thể chịu nổi những sự kiện hồi gần đây khi Trung Quốc ngày càng tỏ vẻ lộng hành hơn không những khống chế và kiểm soát một cách công khai những vùng biển đang tranh chấp mà còn ra lệnh cấm đánh bắt cá đối với ngư dân nhiều nước trong đó ngư dân Việt bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.

Liên tục trong nhiều tháng, tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển của Việt Nam và bắt cóc ngư dân đang đánh bắt cá trong lãnh hải Việt Nam và đòi tiền chuộc. Lý do mà Trung Quốc đưa ra là tàu Việt Nam vi phạm lãnh hải của họ. Sau nhiều ngày im lặng, Việt Nam lên tiếng một cách yếu ớt đòi Trung Quốc phải thả ngay lập tức những ngư dân này và thái độ duy nhất mà Trung Quốc đưa ra là im lặng.

Ông Chu Tiến Vĩnh, Cục trưởng cục Khai thác và bảo vệ nguồn thủy sản Việt Nam cũng là chủ tịch Ủy Ban Liên Hiệp nghề cá Việt Trung gửi thư đòi Trung Quốc phải thả ngư dân Việt Nam, nếu không sẽ không tham dự cuộc họp trừ bị mà Ủy Ban này sẽ tổ chức vào tháng 8 này tại Đà Nẵng. Đáp lại bức thư này của ông Vĩnh cũng là sự im lặng của Trung Quốc.

Những người biết chuyện đều bức xúc trước hành động này, trong đó có tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nay đã 93 tuổi nhưng vẫn còn đủ minh mẫn để biết được những sai trái mà trung Quốc đang vi phạm, ông nói:

-Tôi cho rằng những việc mà Trung Quốc làm là rất sai trái, lãnh hải của Việt Nam mà Trung Quốc ngang nhiên cấm tức là dùng sức mạnh để ức chế mình rồi.

Ngày 15 tháng 7 ngư dân Việt Nam lại đối diện với một vấn đề nghiêm trong khác là tàu lạ đâm vào chiếc tàu mang mã số QNG2203 trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Tọa độ chính xác được xác định khi sự cố xảy ra là 13 độ 45 vĩ bắc 110 độ kinh đông. Sự việc này nói lên tính câp bách mà chính quyền cần phải xem xét.

Mặc dù chậm nhưng Bộ Ngoại Giao đã gửi công hàm đến các nước yêu cầu tiếp tay điều tra tàu lạ. Tuy nhiên người ta không có bất cứ thông tin nào về phản ứng này vì nước nào được yêu cầu tham gia điều tra không thấy Bộ Ngoại Giao nói đến.

Ngày 15 tháng 7 ngư dân Việt Nam lại đối diện với một vấn đề nghiêm trong khác là tàu lạ đâm vào chiếc tàu mang mã số QNG2203 trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Tọa độ chính xác được xác định khi sự cố xảy ra là 13 độ 45 vĩ bắc 110 độ kinh đông. Sự việc này nói lên tính câp bách mà chính quyền cần phải xem xét.

Ai có trách nhiệm bảo vệ người dân?

Về phía chính phủ, PGS TS Nguyễn Chu Hồi, Phó tổng Cục trưởng cục biển và Hải Đảo Việt Nam cho biết:

-Về vấn đề này thì chính phủ cũng đã ra tuyên bố một cách rõ ràng từng vụ việc một nhưng vấn đề biển Đông là một vấn đề lâu dài không thể giải quyết một cách nhanh chóng được.

Ông Dương Danh Huy, một chuyên gia về vấn đề biển Đông cho biết những ý kiến của ông về cách đối phó với Trung Quốc trong tình thế hiện nay của Việt Nam, ông nói:

-Tôi nghĩ Việt Nam không nên ngồi yên và chờ đợi, Chính phủ phải chủ động mở một chiến dịch rộng rãi tranh thủ dư luận thế giới.

Ông Dương Danh Huy

-Tôi nghĩ Việt Nam không nên ngồi yên và chờ đợi, Chính phủ phải chủ động mở một chiến dịch rộng rãi tranh thủ dư luận thế giới.

Thế còn dư luận trong nước, nguồn nội lực có sẵn và tuyệt đối vì quyền lợi đất nước phải được tận dụng như thế nào? Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh xác định vai trò của bào chí và người trẻ trong nước như sau:

-Tôi cho rằng những việc Trung Quốc ức hiếp chúng ta thì báo chí phải lên tiếng đấu tranh. Nhân dân chúng ta phải lên tiếng đấu tranh..

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

-Tôi cho rằng những việc Trung Quốc ức hiếp chúng ta thì báo chí phải lên tiếng đấu tranh. Nhân dân chúng ta phải lên tiếng đấu tranh..

Tiếc rằng đề nghị của tướng Vĩnh cũng như của hàng triệu người khác cho tới nay vẫn là một điều nhạy cảm. Khó thể trông đợi điều gì khả quan hơn trong cách chống trả của Nhà nước khi nỗi ám ảnh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc vẫn khống chế mọi quyết định của nhà cầm quyền hiện nay.

Liệu nỗi sợ hãi này là có thật khi mà Việt Nam vừa kỷ niệm 45 năm ngày chiến thắng của bộ đội hải quân đã chiến đấu anh dũng, bắn rơi 8 máy bay phản lực hiện đại và bắn hỏng nhiều máy bay khác của Mỹ, mở đầu trang sử chiến đấu và chiến thắng của Quân chủng Hải quân.

Dư luận trông đợi rằng sức mạnh hải quân mà 45 năm trước Việt Nam có được sẽ tiếp tục phát huy trong hoàn cảnh nguy khốn hiện nay. Liệu sự trông đợi này có quá lạc quan hay không?

Trung Quốc và Ấn Độ bàn về biên giới

Hội đàm cao cấp giữa Ấn Độ và Trung Quốc là dấu hiệu hai nước tìm cách làm giảm bớt căng thẳng do khác biệt quyền lợi chiến lược.

Ông Đới Bỉnh Quốc và Cố vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ M. K. Narayanan tại cuộc họp

Trước chuyến thăm sang Dehli của Ủy viên Quốc vụ viện, ông Đới Bỉnh Quốc, Trung Quốc đã phải bác bỏ một tin của báo Hong Kong rằng Bắc Kinh 'sẽ nhượng bộ' về biên giới.

Tờ Ming Pao ở Hong Kong hôm thứ Tư vừa qua chạy tin nóng rằng Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận 28% phần lãnh thổ tranh chấp mà Trung Quốc cho là thuộc Khu tự trị Tây Tạng của họ.

Theo Tân Hoa Xã, bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ tin này, cho nó là 'vô căn cứ'.

Trong cuộc họp cao cấp hai ngày 07-08 tháng Tám với Cố vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ, ông M. K. Narayanan, vị khách Trung Quốc được nói đã bàn không chỉ về biên giới mà còn thảo luận các vấn đề quốc tế, khu vực 'cùng quan tâm'.

Nhưng như bình luận của báo Mỹ Wall Street Journal, gần như trong lĩnh vực nào hai bên cũng cạnh tranh, thậm chí căng thẳng với nhau.

Cạnh tranh mọi mặt

Trước hết là tranh chấp một phần đất tại bang Arunachal Pradesh, hậu quả của cuộc chiến 1962 khiến Ấn Độ bị thua, và cho đến nay Trung Quốc vẫn coi là một phần lãnh thổ của họ.

Sau đến quá trình Trung Quốc liên kết nhiều năm với Pakistan, đối thủ nặng ký của Ấn Độ từ Chiến tranh Lạnh đến giờ, nhằm 'bao vây' Dehli, ít ra là theo cách hiểu của nhiều nhân vật trong chính giới ở Tiểu Lục địa.

Khác biệt thể chế, một bên là nền dân chủ đông dân nhất thế giới theo mô hình Anh, một bên là chế độ cộng sản độc đoán lớn nhất thế giới, cũng khiến nhận thức của chính giới hai nước dễ xa hơn là dễ gần.

Quan hệ Ấn - Trung

30/12/1949: Ấn Độ công nhận nước Trung Quốc cộng sản

1954: Hai nước ký Nguyên tắc Chung sống Hòa bình

1962: Chiến tranh biên giới

2003: Thỏa thuận về tình trạng của Tây Tạng và Sikkim

2006: Mở lại Con đường Tơ lụa

Ấn Độ cũng bao dung chính phủ Tây Tạng lưu vong của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người Trung Quốc cho là 'kẻ khích động lật đổ.'

Con đường cải tổ kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hai bên cũng khác nhau, thậm chí tạo nguy cơ tiềm ẩn về xung khắc.

Ngay từ 2003, các tác giả Yasheng Huang và Tarun Khanna đã viết trên Foreign Policy rằng Trung Quốc chọn con đường thu hút tối đa đầu tư nước ngoài (FDI), chấp nhận để kinh tế bị lệ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia còn Ấn Độ chú trọng phát triển công nghệ nội địa.

Hệ quả là ngày hôm nay, Trung Quốc bị tác động mạnh của thị trường quốc tế, và sức cạnh tranh giảm so với sự vươn lên 'chậm mà chắc' của các công ty Ấn Độ.

Trung Quốc 'chiếm' các thị trường bên ngoài bằng hàng rẻ trong khi công nghệ thông tin của Ấn Độ chiếm vị trí cao hơn trong mạng dưới dịch vụ toàn cầu.

Ấn Độ cũng liên tục khiếu nại lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về các 'chính sách bán phá giá' của Trung Quốc.

Trung Quốc thì phản đối việc Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) muốn bỏ tiền vào một dự án tại bang Arunachal Pradesh vì lý do tranh chấp lãnh thổ.

Nhưng nguy cơ xung đột tiềm tàng nhất vẫn là quân sự.

Theo Wall Street Journal, Ấn Độ tiếp tục nghi ngờ quan hệ chiến lược gần gũi của Trung Quốc với Pakistan, nhất là các hợp đồng gần đây Bắc Kinh giúp Islamabad xây dựng lò phản ứng hạt nhân và chế tạo phi cơ tiêm kích.

Giới phân tích quân sự Ấn cũng đã nhiều lần lên tiếng cho rằng Trung Quốc liên kết với các nước nhỏ trong vùng để lập vành đai 'bao vây' tầm hoạt động của hải quân Ấn Độ.

Thủ tướng Manmohan Singh mới đây đã hạ thủy tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của Ấn

Nhà phân tích an ninh Ấn Độ Brajesh Mishra thì cho rằng quan hệ hạt nhân giữa Dehli và Washington là căn nguyên khiến Trung Quốc có thái độ 'thù địch'.

Nhưng về phía mình, Ấn Độ cũng phải tỏ ra không có ý đồ gì khi hạ thủy tàu ngầm hạt nhân đầu tiên mấy tuần trước.

Báo chí Ấn Độ vì thế thận trọng hơn trong việc đưa tin về chuyến thăm của ông Đới Bỉnh Quốc.

Cho đến nay, tờ Hindu Times mới chỉ đăng ảnh hai ông Narayanan và Đới Bỉnh Quốc bắt tay, chạy kèm một số thông tin chung chung.

Hai bên hiểu rằng cần hóa giải căng thẳng về mọi mặt, nhất là khi nhu cầu hợp tác, phát triển kinh tế khiến cả hai phải tính toán.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ thì đưa ra phát biểu thừa nhận hai bên có nhiều điểm 'lên và xuống' trong quan hệ và 'tranh chấp lãnh thổ', nhưng nói rằng hai quốc gia cũng 'chia sẻ trách nhiệm chung về lịch sử và chính sách phát triển kinh tế'.

Thời đại không anh hùng

Biểu tượng anh hùng cổ xưa nhất của người Việt Nam chắc chắn là hình ảnh Thánh Gióng. Kể từ Phù Đổng Thiên vương nửa huyền thoại, hầu như tất cả các anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam đều phải là những lãnh tụ lập quốc, hoặc là danh tướng chiến thắng ngoại xâm.

Việt Nam hiện nay không còn tìm ra được Quang Trung?

Sự thiên lệch rất dễ hiểu. Sinh tồn bên cạnh các triều đại thực dân phong kiến Trung Hoa, ác mộng mất nước đã được hóa giải và động viên bằng hàng chục cái tên lẫy lừng: Lý Bôn, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… Chiến thắng ngoại xâm, cởi bỏ ách nô lệ cho quốc gia cũng là lẽ chính thống đầu tiên của bất cứ ngai vàng nào. Thậm chí thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi gấp đôi như nhà Nguyễn và tổ tiên họ đã làm, chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, để hoàng đế khai quốc Nguyễn Ánh đường hoàng bước vào ngôi đền thiêng cùng với tiền nhân.

Tham khảo nhiều mô hình xã hội có cùng nguồn gốc, gần gũi về lãnh thổ tại Tây Nguyên Việt Nam và Hoa Nam Trung Quốc, chúng tôi thấy tại mảnh đất tiền Việt Nam cũng như vùng Bách Việt, người giàu có nhất, mạnh mẽ nhất trong một làng được suy tôn là quan Lang. Một cách tương đối, đứng đầu trăm làng là Lạc tướng, ngàn làng là Lạc hầu, vạn làng là Lạc vương. Ngoại trừ quan Lang và Lạc tướng có những hệ lụy xa gần về huyết thống, địa lý và thần quyền; các nấc bậc quyền lực còn lại liên kết khá lỏng lẻo. Nó không có những nguyên tắc chế định thông thường của nhà nước phong kiến quân chủ, bởi không hề chia sẻ với nhau một tổ chức xã hội, chính trị hay tôn giáo. Đa thần cũng là lý do phân ly quan trọng, dù họ cùng thờ mặt trời (trong khuôn khổ nguyên sơ nhất). Cái vỏ phong kiến của ngôn ngữ Hán đã đánh lừa người đọc hàng ngàn năm sau, khi tiếp cận với những ghi chép về mảnh đất tiền Việt Nam trong Hán sử.

Điểm sáng đáng để ý nhất của Âu Lạc có lẽ là tinh thần đoàn kết của các Lạc tướng và nhân dân trước họa ngoại xâm. Luôn xuất hiện một thủ lĩnh đứng lên đóng vai trò Lạc vương khi chiến tranh vượt khỏi tính chất cục bộ trong bản thân Âu Lạc. Truyện cổ tích Thánh Gióng chứng tỏ điều đó.

Cụ Hồ đã hoàn toàn làm chủ tư chất lãnh tụ của mình, bằng một câu nói giản dị nhưng có sự liên thông và thấu hiểu cao độ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Những lãnh tụ lập quốc thường có đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức dân tộc và nhân dân, thậm chí nhân loại. Họ luôn biết phải nói cái gì, lúc nào và nói ra sao để đánh thức thời đại. Truyền thống yêu nước và đoàn kết chống xâm lược của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa như thế. Nó là bản năng, chứ không thể gọi là bản chất đơn thuần.

Bản năng dân tộc được đánh thức, cộng hưởng với âm ba thời đại và khao khát độc lập để làm nên chiến thắng đắt giá cho dân tộc Việt Nam trước người Pháp và người Mỹ. Đúng qui luật, ngôi đền anh hùng của người Việt đã kết nạp hai cái tên đương thời: Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp nhận được sự đồng thuận xã hội cao hơn hẳn Hồ Chí Minh cũng dễ hiểu. Ông là nhân vật quân sự thuần túy, ít gây ra tranh cãi và bị phủ định bởi ẩn ức cá nhân giữa dòng chính trị chìm nổi. Điều thú vị khi so sánh hai vị anh hùng này là, xét về công trạng, Hồ Chí Minh mang danh quốc phụ trong khi họ Võ chỉ là đại công thần khai quốc. Chúng ta có thể chiêm nghiệm tư duy “đắp tượng đài” đặc thù của người Việt Nam khi đặt hai anh hùng này cạnh nhau.

Tác giả nói không tìm thấy hình tượng anh hùng qua cuộc chiến 1979

Tôi ngạc nhiên nhận ra xung đột Việt – Hoa 1979 nếu gọi là chiến tranh vệ quốc thì tại sao trong tâm thức người Việt Nam không hiện lên một cái tên anh hùng? Sẽ có người bảo rằng độ thấm của thời gian chưa dài? Đâu hẳn, không cần ba mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp đã đường hoàng bất tử trong lòng dân tộc, chẳng thể lung lay trước mọi chèn ép của cả một thể chế dưới ngọn cờ Lê Duẩn.

Thời đại “không anh hùng” dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư Lê Duẩn, “đêm trước đổi mới” 1975 – 1986 với nút thắt 1979 và chiến cuộc Campuchia dai dẳng, có lẽ đã tạo nên một khoảng trống không thể khỏa lấp trong hành trang tư tưởng dân tộc Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21.

1979 là một cơ hội lớn tương đương 1789 mà người Việt Nam đã bỏ lỡ. Nếu đừng bài Hoa, nếu đừng sa lầy ở xứ sở chùa tháp, nếu tung toàn lực đánh một trận quyết tử với Trung Quốc như Quang Trung, rồi ngay lập tức hòa hoãn và quan hệ đa phương, vị thế Việt Nam và Trung Quốc có thể đã cân bằng hàng trăm năm, như đã từng. Chẳng có bằng hữu muôn đời và hận thù thì không thể mãi mãi. Chắc chắn tâm thức dân tộc Việt Nam hiểu rõ điều này, cho nên họ không thể tìm ra một vị anh hùng cho mình, trong những người đã đưa lòng căm thù vào… hiến pháp sau năm 1979.

Những lãnh tụ Việt Nam hôm nay là ai, nếu không phải lớp “tam thập nhi lập” vào năm 1979. Họ là nhóm người hiểu sâu sắc, hiểu kỹ lưỡng nhất cuộc khủng hoảng trầm trọng của xã hội Việt Nam sau xung đột 1979. Trong sâu thẳm kinh nghiệm của họ, đối đầu cương quyết với Trung Quốc chỉ toàn là bất lợi. Phải chăng đó là lí do khiến người dân Việt Nam đang bất an, mỗi khi nhắc đến cái tên Trung Quốc?

Tư tưởng Hồ Chí Minh lên ngôi vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước, cho đến nay, chưa có kết quả sáng sủa. Trong vết xe cũ mòn ấy, nhóm trí thức phản đối Bauxite hiện nay cũng đang gắng gượng dùng hình tượng anh hùng Võ Nguyên Giáp để chống lưng cho mặt trận của mình. Sự bế tắc nên được gọi đúng tên: Thời đại không có anh hùng.

Với những người tự nhận là hoạt động dân chủ, sự bế tắc chung đã nêu được họ thu nhỏ ở mức độ thể chế - chế độ, qua đó người ta mơ mộng và bay bổng trong những mỹ từ dân chủ, tự do, nhưng hoàn toàn bất lực khi chỉ ra dân chủ là hành trình hay đích đến của một xã hội văn minh.

Trong vết xe cũ mòn ấy, nhóm trí thức phản đối Bauxite hiện nay cũng đang gắng gượng dùng hình tượng anh hùng Võ Nguyên Giáp để chống lưng cho mặt trận của mình.

Trương Thái Du

Sự bế tắc tư tưởng của xã hội Việt Nam hiện nay, cũng là môi trường thuận lợi để các mâu thuẫn nhà nước và nhà thờ liên tục bùng phát.

Có một sử gia nước ngoài đã mạnh dạn khái quát hóa lịch sử trung đại Việt Nam cơ bản là những diễn biến tranh chấp vùng miền. Tất nhiên, nó khởi đi từ chế độ quân trưởng độc lập của xã hội tiền Đại Việt, tiền Việt Nam. Sự việc phức tạp hơn tên gọi của vấn đề. Song, điều này ít nhiều chỉ ra rằng trong cơ thể xã hội Việt Nam luôn có những vết nứt nội tại truyền kiếp, chia rẽ tầm nhìn chung của cộng đồng. Đây hẳn là một nguyên nhân lớn lao, khiến dân tộc Việt Nam chưa bao giờ vượt lên khỏi khu vực, tiến đến tầm nhân loại, ngoại trừ khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh vệ quốc hay giành độc lập ở thời đại thông tin.

Mệnh đề “chia rẽ dẫn đến bế tắc, hay bế tắc sinh ra chia rẽ” mang nội hàm của bài toán con vịt và quả trứng vịt. Sự chia rẽ khiến hầu hết người dân Việt Nam hôm nay bàng quan với vận mệnh dân tộc, nhất là trong bối cảnh sức ép kinh tế, chính trị và lãnh thổ/biển đảo ngày càng tăng từ phương Bắc?

Dân tộc Việt Nam từng được gắn kết chặt chẽ bằng những cái tên anh hùng, bằng chất keo chiến thắng và căn cước sinh tồn bên cạnh người Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa hàng ngàn năm nay. Hình ảnh người anh hùng chẳng qua là biểu trưng của tư tưởng thời đại mà thôi.

Giữa vận hội mới, người Việt Nam đã để các tiền nhân đi lạc, trong khi vẫn thiếu vắng những nhân tố mới. Do đó, nguy cơ thuận theo quĩ đạo Trung Hoa trước mắt là vô cùng lớn. Ở trong “thế giới Trung Hoa”, cảm giác “ổn định” hay “hài hòa” là một, chúng sinh ra từ cung điện Thái hòa của nhiều vương triều Việt – Trung với tâm tư nguyên thủy của vua Tần, truyền ngôi cho con cháu đến vạn thế. Ở góc độ nào đấy, nếu “ổn định” không đồng hành cùng “tiến bộ”, nó sẽ trở thành chướng ngại cản đường, sẽ làm trì độn cả một cộng đồng.

Một dân tộc phi nhược tiểu luôn là một dân tộc có tư tưởng riêng và liên tục tìm kiếm tiến bộ trong sự ổn định chấp nhận được. Vấn nạn “không anh hùng” hiện nay của sinh thể Việt Nam được một số trưởng lão qui chiếu trên tâm thế cá nhân là “hèn”. Âu cũng là nỗi đau không hề kín đáo, của những người luôn suy tư cho tiền đồ đất mẹ.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu cổ sử độc lập ở Sài Gòn.

Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

'Cần đối thoại tôn giáo'


Cầu nguyện của giáo dân trong vụ Tam Tòa

Giáo dân ở giáo phận Vinh cầu nguyện trong vụ Tam Tòa

Một chuyên gia tại Việt Nam cho rằng đã đến lúc nhà nước và các giáo hội cần ngồi xuống cùng nhau để giải quyết gốc rễ các vấn đề về quan hệ nhà nước và tôn giáo do lịch sử để lại và bàn thảo về tương lai.

Ông Trương Hải Cường, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Đương đại từ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, nói với BBC Việt ngữ hôm 06/8/2009 rằng có ít nhất hai hệ luỵ chính từ lịch sử phải giải quyết thấu đáo:

"Thứ nhất, đó là vấn đề đất đai, cơ sở vật chất của các giáo hội từ trong quá khứ để lại và thứ hai là hệ lụy tâm lý ‘mặc cảm’ trong quan hệ nhà nước với một số tôn giáo và giữa các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam."

Các vụ việc diễn ra liên tục thời gian qua giữa khối Công giáo La Mã và cả một số hệ phái của Phật giáo với chính quyền tại các địa phương từ Bắc chí Nam đặt ra câu hỏi có điều gì không ổn trong quan hệ chính quyền và các giáo hội.

Về hệ lụy thứ nhất, liên quan các diễn biến Giáo hội Công giáo đòi đất qua trong ba vụ điển hình là Nhà Chung, Thái Hà và mới nhất là Tam Toà, ông Cường cho biết:

"Trước hết đây là cả một vấn đề thuộc về lịch sử, nhất là quan hệ tôn giáo với nhà nước mà lẽ ra chính quyền phải gỡ sớm hơn từ trước."

"Từ xưa vốn dĩ đã có các vấn đề này rồi, nhưng trong bối cảnh chính sách đất đai phức tạp hiện nay, những vấn đề bức xúc kéo theo, đã nảy sinh các vụ xung đột này và kể cả ở một số nơi khác."

‘Mặc cảm với Công giáo’

Về vấn đề thứ hai được coi có tính phức tạp kéo dài, vẫn chuyên gia Trương Hải Cường, người tham gia hội đồng tư vấn về các vấn đề tôn giáo ở nhiều cấp, cho hay:

"Nơi này, nơi kia, người ta vẫn có tâm lý ‘mặc cảm’ với Công giáo, mặc dù pháp luật quy định Nhà nước đảm bảo quyền tự do, đối xử bình đẳng với mọi tôn giáo, tín ngưỡng."

Trước dấu hiệu cho thấy quan chức lãnh đạo địa phương phản ứng mạnh và nhanh chóng, điều lực lượng an ninh vào cuộc mỗi khi thấy có cầu nguyện đông người của tín đồ Công giáo, chuyên gia Trương Hải Cường nói thêm:

Giáo dân yêu cầu thả những người bị bắt trong vụ Thái Hà

Giáo dân hậu thuẫn người bị bắt giữ và xét xử trong vụ Thái Hà.

"Mặc cảm ở đây là một số cán bộ, nhất là ở cấp địa phương còn chưa thông hiểu đầy đủ về Công giáo, nên chưa mạnh dạn thực hiện theo pháp luật, hoặc thực hiện thiếu nhất quán."

"(Điều này) dẫn tới việc người dân một số nơi đặt ra câu hỏi, ví dụ, tại sao xin đất xây chùa ở một số nơi lại dễ hơn, thuận lợi hơn xin đất xây nhà thờ bên Công giáo."

Ông Cường cũng cảnh báo về hệ quả và xu hướng các các diễn biến các vụ tranh chấp liên quan tới tôn giáo trong nước hiện nay:

Giáo hội và nhà nước, cả hai bên, cần phải nghiêm túc ngồi lại với nhau để bàn về các vấn đề hiện tại, quá khứ, kể cả hướng tới tương lai để có sự thông hiểu và đồng thuận

"Hiện có một số quan ngại rằng cách giải quyết vấn đề hiện nay ở một số nơi, đương nhiên được thực hiện theo pháp luật của Nhà nước, vẫn có thể phần nào dẫn tới việc gây mất đoàn kết lương - giáo."

Ông đưa ra ví dụ cụ thể như "chúng tôi theo dõi được là việc một số giáo dân trong vụ Tam Toà đi hiệp thông đã bị người dân bên lương, bán hàng quán ở dọc đường đi, tại một số địa điểm, từ chối bán hàng cho."

Bàn về giải pháp cho các vấn đề, ông Trương Hải Cường nói:

"Cho nên tôi nghĩ, giáo hội và nhà nước, cả hai bên, cần phải nghiêm túc ngồi lại với nhau để bàn về các vấn đề hiện tại, các vấn đề quá khứ để lại và kể cả hướng tới tương lai để có sự thông hiểu và đồng thuận."

"Hiện có hơn 6 triệu đồng bào tôn giáo. Các tôn giáo khác người ta nhìn vào đó, người ta cũng có thể sẽ so bì và đặt ra các câu hỏi."

Ông thừa nhận việc nhiều địa phương chưa làm tốt việc "kiên trì tuyên truyền, vận động trước, rồi mới đưa luật pháp ra sau".

Đảng cũng phải thay đổi

Người dân xem xét quy hoạch đô thị

Chuyên gia tin rằng các vấn đề đất đai, cơ sở vật chất lưu tồn tới nay của các giáo hội đã tới lúc cần được đàm phán

Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Đương đại cũng đề cập tới viễn cảnh về xã hội dân sự ở Việt Nam và quan hệ tay ba với tôn giáo và Nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo.

"Hiện nay, vẫn chưa có quan điểm thống nhất xã hội dân sự là gì. Một số người xếp tôn giáo vào xã hội dân sự."

"Tôi thấy chưa hẳn hợp lý vì xếp tôn giáo nói chung vào xã hội dân sự thì phải xét tới tư cách về một số quyền và nghĩa vụ của xã hội dân sự của tôn giáo theo hướng đó. Nên xếp vào đâu cũng rất khó."

Đặc biệt, ông Cường cho rằng trong tương lai có thể cần xem xét lại nhận thức về vị trí của các giáo hội và đặt họ ngang với chính quyền vốn nắm quyền lực nhà nước.

Nhiều định nghĩa trên quốc tế thừa nhận giáo hội có quyền lực tinh thần.

Vẫn ông Cường, người từng có nhiều năm nghiên cứu về các lý thuyết Marxist về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần khoa học, nói:

Xu hướng vai trò xã hội dân sự chắc chắn sẽ nhiều lên. Đảng cộng sản có ngại hay không còn phụ thuộc vào chính đảng Cộng sản, nghĩa là đảng cũng phải đổi mới.

"Theo tôi, các tổ chức xã hội của tôn giáo, như các hội đoàn, các dòng tu tham gia hoạt động xã hội của tôn giáo có thể xếp vào xã hội dân sự. Còn tổ chức tôn giáo với tư cách là giáo hội không thuộc về xã hội dân sự."

"Vì giáo hội là tiểu hệ thống thuộc thượng tầng kiến trúc và xét ở khía cạnh đó nó cũng như nhà nước, tức là vị trí ngang bằng."

Trước câu hỏi liệu Đảng Cộng sản có ngại vai trò và xu hướng của xã hội dân sự, cùng vị trí của tôn giáo và các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị có nguồn gốc tôn giáo hoặc có sự hậu thuẫn của các giáo hội trong tương lai hay không, ông Trương Hải Cường nhận định:

"Xu hướng vai trò xã hội dân sự chắc chắn sẽ nhiều lên. Đảng cộng sản có ngại hay không còn phụ thuộc vào chính đảng Cộng sản, nghĩa là đảng cũng phải đổi mới."

"Đổi mới về tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo và đồng thời nhà nước cũng phải có một hệ thống luật pháp, để các tổ chức, thể chế hoạt động theo đúng hiến pháp và pháp luật."

Trong khi đang có những lo ngại về tranh chấp không gian công, một hình thức của việc giành quyền kiểm soát và tác động đến các khối dân chúng đông đảo giữa một số giáo hội và nhà nước do đảng Cộng sản nắm tại Việt Nam, ông Cường cho rằng không có gì phải lo ngại:

"Tranh chấp về quyền lực, theo tôi, không phải là cái ngại lắm. Mà cái chính lúc đó là liệu có quản được nữa hay không, mà quản tức là đảm bảo được cái quyền tự do theo đúng luật pháp của các chủ thể đó. Ở điểm này, hiện nay tôi thấy chưa có đủ bối cảnh và yếu tố pháp lý," - ông Cường nói với BBC.

Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Đương đại thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên nghiên cứu các vấn đề về tôn giáo theo hướng cơ bản, ứng dụng và dự báo; đặc biệt khảo sát tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, qua đó hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu chính sách về tôn giáo học.

Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

NguyenMinhTriet -ChanhNghia SangNgoi

Nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ sắp hầu tòa

PHÁP LUẬT
Thứ hai, 3/8/2009, 15:39 GMT+7
E-mail Bản In



TAND Hà Nội đang thụ lý hồ sơ chuẩn bị xét xử vụ tiêu cực trong điều hành đề án 112 liên quan ông Vũ Đình Thuần (nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) cùng nhiều giám đốc và cán bộ nhà nước. 23 người bị cáo buộc gây thất thoát hơn 4,6 tỷ đồng.
Ông Vũ Đình Thuần. Ảnh: Người Lao Động

Dự kiến, phiên xử sẽ khai mạc vào cuối năm nay do một lãnh đạo của tòa hình sự làm chủ tọa. Hiện, trong 23 bị can đã có 21 trường hợp được tại ngoại; chỉ còn ông Vũ Đình Thuần với vai trò Trưởng ban Quản lý đề án 112 cùng ông Lương Cao Sơn (thư ký ban điều hành) vẫn bị bắt tạm giam.

Các cơ quan tố tụng xác định, khi triển khai đề án 112 (Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước 2001-2005), theo đề xuất của cấp dưới là Sơn và Nguyễn Cát Hồ (tổ trưởng tổ đào tạo), ông Thuần đã ký gần 130 hợp đồng với nhiều công ty trong việc mua sắm bản quyền phần mềm; ký hợp đồng in giáo trình tài liệu, hợp đồng đào tạo... Tuy nhiên, việc thực hiện đã vi phạm nghiêm trọng quy chế đấu thầu khi không lập kế hoạch hay chia nhỏ dự án để tránh đấu thầu...
Đề án 112 được Thủ tướng phê duyệt năm 2001.
Theo kết quả kiểm toán Nhà nước, tổng mức đầu tư được duyệt 3.830 tỷ đồng. Tổng kinh phí đã sử dụng gần 1.160 tỷ đồng. Trong số này 20% bị sử dụng trái quy định.

Chẳng hạn, khi thực hiện các hợp đồng mua sắm bản quyền phần mềm với Công ty Công nghệ tin học ISA ông Thuần đã "bỏ qua" các quy định về đấu thầu. Để được "ưu ái" này, bà Nguyễn Thúy Hà (giám đốc ISA) khai, đưa trực tiếp tổng cộng 510 triệu đồng cho ông Thuần và Sơn. Trong đó ông Sơn hưởng 410 triệu đồng, ông Thuần 100 triệu đồng.

Ông Sơn cũng thừa nhận, khi doanh nghiệp trúng thầu thì việc đưa tiền cho Ban quản lý dự án đã trở thành "thông lệ chung" tại đây. Vị thư ký của Ban điều hành cho biết đã nhận hàng trăm triệu đồng của bà Hà, và đưa cho "sếp" Thuần 200 triệu đồng, riêng ông hưởng 80 triệu đồng...

VKSND Tối cao xác định, qua việc thực hiện 24 hợp đồng với ISA với tổng giá trị hơn 13 tỷ đồng, nhà nước bị thiệt hại hơn 1,3 tỷ đồng. Tuy nhiên qua củng cố chứng cứ, cơ quan điều tra chỉ đủ cơ sở khẳng định, ông Thuần đã hưởng lợi 200 triệu đồng, ông Sơn 80 triệu đồng...

Còn khi thực hiện 28 hợp đồng in giáo trình với NXB Tư pháp, các ông Thuần, Sơn cùng Hồ đã cố ý làm trái công vụ, gây thiệt hại cho nhà nước gần 1,2 tỷ đồng. Tương tự tại nhiều hợp đồng in sách với Tổng công ty Sách VN, những người này tiếp tục gây thiệt hại hơn 1 tỷ đồng...

VKSND Tối cao cho rằng, vì động cơ vụ lợi của những cán bộ trên và 20 người khác có liên quan, nhà nước đã bị thiệt hại hơn 4,6 tỷ đồng.

Ông Thuần được xác định giữ vai trò chính, với số tiền bị cáo buộc hưởng lợi bất chính là 275 triệu đồng; còn ông Sơn là chủ mưu, khởi xướng hưởng lợi gần 750 triệu đồng; riêng ông Hồ không đủ căn cứ xác định có nhận tiền "lót tay" song vì động cơ vụ lợi đã cố ý làm trái công vụ. Hành vi của 3 ông Thuần, Sơn, Hồ đã đủ cơ sở cấu thành tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Liên quan vụ việc, 17 người khác cũng bị truy tố về tội danh này. Trong số này có ông Nguyễn Đức Giao (cựu giám đốc Nhà Xuất bản Tư pháp), Phạm Văn Tuấn (Phó giám đốc NXB), Phạm Thị Tuyết Lan (kế toán trưởng NXB); cùng Hoàng Đăng Bảo (cựu chuyên viên Vụ cải cách hành chính Văn phòng Chính phủ); Trần Tấn Ngô (cựu tổng giám đốc Tổng công ty sách VN) và các thuộc cấp Nguyễn Thị Minh Thiệu (phó tổng giám đốc), Nguyễn Thị Phương Hoa (phó tổng giám đốc), Lưu Ý Nhi (kế toán trưởng), Ngô Thị Nhâm (phó phòng kinh doanh)... và Nguyễn Thúy Hà (nguyên tổng giám đốc ISA), Chu Xuân Vinh (giám đốc Công ty Đầu tư phát triển công nghệ ứng dụng Toàn cầu), Lê Trung Nghĩa (giám đốc Công ty Cổ phần phần mềm thương mại điện tử Nhất Vinh)...

Riêng hai em trai của ông Sơn là Lương Cao Phi, Lương Cao Phong cùng Công Tuấn Hải (cán bộ NXB Bản đồ) bị xử lý về tội lợi dụng ảnh hưởng với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi. Họ được xác định đã "sử dụng" vị thế của ông Sơn để hưởng lợi tại một số hợp đồng ký kết giữa doanh nghiệp và Ban quản lý đề án.

Diễn biến vụ án

- Ngày 13/9/2007: Nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, trưởng ban điều hành đề án 112 Vũ Đình Thuần bị bắt.

Cùng ngày, ông Nguyễn Đức Giao (Giám đốc Nhà xuất bản Tư pháp, Bộ Tư pháp); ông Lương Cao Sơn (Thư ký ban điều hành đề án 112), ông Hoàng Đăng Bảo (Vụ Hành chính, Văn phòng Chính phủ), bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Thị Minh Thiệu (phó tổng giám đốc Tổng công ty phát hành sách)... cũng vướng vòng lao lý.

- Vài ngày sau, Chính phủ đình chỉ công tác của ông Thuần, Bảo và Sơn.

- Chiều 19/11/2007, đăng đàn Quốc hội, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thừa nhận Chính phủ đã sai lầm khi giao đề án 112 cho một cơ quan tham mưu không có chuyên môn, hoạt động lỏng lẻo.

Hoàng Khuê

Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty