TUYÊN NGÔN LẠC HỒNG
Nam quốc Mộc Tinh chấn Lạc Hồng
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.
Trần Đông Chấn

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát - La Meurtrissure

Search This Blog

Wednesday, January 6, 2010

VC chờ điều kiện chín muồi giải quyết tranh chấp Biển Đông ????

Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường:
Cập nhật lúc 16:07, Thứ Tư, 06/01/2010 (GMT+7)
 - Tại buổi họp báo sáng nay (6/1) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường cho rằng giải pháp thiết thực hiện nay, đó là tạm gác lại tranh chấp Biển Đông, chờ điều kiện chín muồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước.

Mô tả ảnh.
Đại sứ Tôn Quốc Tường: Không có một lý do nào làm hỏng quan hệ Trung - Việt. Ảnh: Trường Sơn
Chuẩn bị cho các hoạt động của Năm Hữu nghị Việt  - Trung 2010, kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường trong buổi họp báo đã thông báo các sự kiện cũng như đánh giá về tiến trình hợp tác 60 năm Trung - Việt.
"Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại"
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên thừa nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc cũng là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Đại sứ Tôn Quốc Tường nói kinh nghiệm quý báu nhất rút ra trong tiến trình 60 năm quan hệ Trung - Việt là "hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại".
"Là láng giềng, là đồng chí, anh em, hai nước có 100 lý do để hợp tác và không có một lý do nào làm hỏng quan hệ Trung - Việt. Đảng, Nhà nước và Chính phủ Trung Quốc coi trọng phát triển quan hệ với Việt Nam, đặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện giữa Trung - Việt ở vị trí quan trọng và trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, không ngừng làm hết sức đóng góp cho sự nghiệp chung của hai bên", Đại sứ nhấn mạnh.
Theo ông Tôn Quốc Tường, năm 2009, quan hệ hai nước có nhiều thu hoạch. Hai nước đã trao đổi 167 đoàn thăm viếng, làm việc, trong đó cấp thứ trưởng 108 đoàn. Đáng chú ý, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước vẫn duy trì đà tăng trưởng, phấn đấu đạt 25 tỷ USD vào năm nay.
VietNamNet lược ghi phần hỏi - đáp giữa Đại sứ và các phóng viên Việt Nam về những vấn đề quan hệ song phương: 
"Tạm gác lại tranh chấp"
Tuổi Trẻ: Xin Đại sứ cho biết chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông với Việt Nam?
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng anh em. Nhưng cũng giống như quan hệ của các nước khác, trong quan hệ song phương của chúng ta chắc chắn tồn tại một số vấn đề. Tôi thường nói với các đồng chí lãnh đạo cũng như các bạn Việt Nam rằng trong gia đình dù là vợ chồng cũng có khi cãi nhau. Đây là vấn đề giữa anh em chúng ta.
Làm thế nào giải quyết vấn đề đó cũng nêu ra thách thức to lớn đối với ý chí và thiện chí, trí tuệ và khả năng giải quyết vấn đề này. Nếu điều kiện chín muồi, hai bên giải quyết được vấn đề, chắc chắn sẽ thúc đẩy phát triển quan hệ hai bên chúng ta. Nếu điều kiện chưa chín muồi, làm cản trở cho quan hệ hai nước thì điều cần phải làm và nên làm là gác lại vấn đề. Trong quan hệ hai nước còn có nhiều công việc cần cố gắng, nỗ lực, có nhiều hợp tác có thể tiến hành.
Trong khi phát triển quan hệ song phương và chờ đợi điều kiện chín muồi, hai bên có điều kiện giải quyết vấn đề này tốt hơn và sẽ đưa ra phương án giải quyết hợp lý hơn nữa. Quan hệ Trung - Việt có 3 vấn đề lịch sử để lại: phân định biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và giải quyết vấn đề biên giới trên biển. Hai bên đã cố gắng giải quyết hai vấn đề trước và chỉ còn lại vấn đề Nam Hải (cách gọi Biển Đông của phía Trung Quốc - PV).
Khi hai bên đang đàm phán, giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền, phóng viên Việt Nam hỏi tôi về đánh giá quá trình đàm phán giải quyết, tôi đã trả lời rằng giải quyết vấn đề biên giới đất liền có ý nghĩa quan trọng, không những tạo cơ sở cho vùng biên giới hai nước hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác, cũng như chứng minh với các nước trên thế giới rằng hai nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo thì không có vấn đề nào không thể giải quyết được.
Bây giờ quan hệ hai nước chỉ còn vấn đề trên biển. Chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán.  Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất. 

Mô tả ảnh.
60 năm qua, quan hệ hai nước đã trải qua một giai đoạn khó khăn, nhưng đó chỉ là một giai đoạn khúc khuỷu - Đại sứ Trung Quốc nói. Ảnh: Trường Sơn
VietNamNet: Theo Đại sứ, đâu là những thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên biển -  vấn đề tồn đọng cuối cùng giữa hai nước?
Tôi nghĩ đây là vấn để nổi bật đang tồn tại trong quan hệ hai nước. Hai bên đã thiết lập cơ chế đàm phán và đang tiến hành thuận lợi. Về thuận lợi, hai nước đều là nước xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo nên không có lý do nào không thể giải quyết được vấn đề tồn tại.
Nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên của hai nước bây giờ là tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa, phát triển sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Hơn nữa, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhiều lần đạt được nhận thức chung hết sức quan trọng. Đó là không để cho vấn đề Nam Hải ảnh hưởng đến sự phát triển, ổn định lâu dài, bình thường của quan hệ hai nước.
Vấn đề nào cũng sẽ có mặt không thuận lợi. Lãnh thổ là vấn đề phức tạp, khó khăn. Lập trường, quan điểm giữa hai bên khác nhau nhiều. Điều quan trọng nhất là làm thế nào đối xử vấn đề tranh chấp và những quan điểm khác nhau.
Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác. Ý nghĩa của nó là không nhắc đến vấn đề tranh chấp mà hai bên có thể tiến hành hoạt động phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của hai bên chúng ta. Bời vì đó là lợi ích hai bên cùng có lợi và cùng chia sẻ.
Trước khi vấn đề này có điều kiện giải quyết, sáng kiến đó có lẽ là con đường hiện thực, thiết thực mà hai bên có thể thực hiện. Chúng tôi đang cố gắng tiếp xúc với các cơ quan hữu quan của Việt Nam để thúc đẩy. 
"Trung Quốc đã đối xử nhân đạo, trách nhiệm"
Tiền Phong: Ở Việt Nam có rất nhiều thế hệ quý trọng tình hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, coi Trung Quốc như anh em. Và tôi biết họ là những người hết lòng vun đắp cho tình hữu nghị đó. Những gì xảy ra về tranh chấp biển Đông thời gian qua là điều không tránh khỏi, nhưng cách ứng xử của Trung Quốc, chẳng hạn như trong vụ bắt giữ tàu thuyền và đối xử với ngư dân Việt Nam không thực sự đàn anh cho lắm. Điều đó làm đau lòng người muốn vun đắp cho tình hữu nghị hai nước. Xin Đại sứ cho vài lời bình luận?
Thông tin đăng trên báo chí có một số là sự thật, một số không phải là sự thật. Tôi phải nói rằng Trung Quốc luôn ứng xử những vấn đề như thế này rất có trách nhiệm. Khi phía Việt Nam nêu vấn đề, chúng tôi đã xác minh, kiểm tra ngay lập tức nhưng kết quả xác minh của chúng tôi lại khác với kết quả của phía Việt Nam.
Ví dụ có một số báo chí đưa tin phía Trung Quốc đã đối xử với ngư dân Việt Nam không nhân đạo. Về vấn đề này, chúng tôi đã xác minh, kiểm tra rất nghiêm túc nhưng kết quả cho thấy đó không phải là sự thật. Ví như có lần Việt Nam đã can thiệp với Trung Quốc rằng Trung Quốc đã thu giữ những công cụ đánh bắt cá cũng như thủy sản đánh bắt của ngư dân Việt Nam. Chúng tôi xác minh thì cho thấy phía Trung Quốc chỉ đuổi tàu cá ra khỏi lãnh hải của Trung Quốc chứ không có hành vi tiếp xúc với ngư dân Việt Nam. Tôi cũng thắc mắc nếu không tiếp xúc làm sao thu giữ ngư cụ của ngư dân Việt Nam.
Khi tàu cá của Việt Nam đi tránh gió cập cảng tại những cảng không phải cảng tránh gió của Trung Quốc, chúng tôi đã đối xử nhân đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể cập cảng. Nhưng khi rời cảng, họ lại chỉ trích Trung Quốc đối xử không nhân đạo và làm đau lòng các cơ quan hữu trách của Trung Quốc.
Sau khi sự việc xảy ra, chúng tôi đã trao đổi riêng với các đồng chí Việt Nam. Chúng tôi cho rằng không nên đưa tin những việc xấu như thế này. Phóng viên Việt Nam kiểm tra lại, báo chí Trung Quốc ít đưa tin về tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá và chúng tôi luôn xuất phát từ đại cục, tuy rằng chúng tôi có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin.
2010, lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc thăm Việt Nam
Nhân Dân: Xin Đại sứ nêu những nét nổi bật quan hệ trong hai nước trong 60 năm qua?
Nói đến quan hệ Trung - Việt, mọi người thường nhắc đến câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vừa là đồng chí, vừa là anh em". Quan hệ Trung - Việt có một điều chung: chung chế độ và chung lý tưởng. Dù hai nước với diện tích đất nước, dân số, trình độ phát triển khác nhau cũng như trong 60 năm đã trải qua một giai đoạn khó khăn nhưng đó chỉ là một giai đoạn khúc khuỷu.
Tóm tắt lại quan hệ hai nước trong 60 năm, điều đầu tiên là hai nước đã tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau. Thứ hai là bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau. Thứ ba là xuất phát từ đại cục, cầu đồng, tồn vịnh. Tôi nghĩ đây là 3 điều kiện, cơ sở hết sức quan trọng trong phát triển quan hệ hai nước.
Một câu tóm tắt quan hệ hai nước, đó là cần tăng cường sự hiểu biết chính trị để đảm bảo sự phát triển lâu dài của quan hệ song phương. Hai nước tiến tới quan hệ ngoại giao, trong lòng mọi người đang suy nghĩ chúng ta đã trải qua 60 năm thì 60 năm tiếp theo chúng ta sẽ như thế nào? Nếu có thể phát triển quan hệ trên những nguyên tắc tôi nêu, trong tương lai, quan hệ hai nước phát triển thuận lợi và tươi sáng. Chúng tôi hết sức đầy lòng tin.
Tiền Phong: Quan hệ cấp cao giữa hai nước có sự thỏa thuận hàng năm trao đổi viếng thăm cấp cao. Hai năm qua, lãnh đạo cấp cao Trung Quốc - Việt Nam viếng thăm nhau rất nhiều nhưng không thấy chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc. Theo Đại sứ, vì sao? Liệu năm 2010 có lãnh đạo cấp cao Trung Quốc nào sang thăm Việt Nam?
Tôi phải sửa lại cách nói của bạn. Trong hai năm qua, hai bên đã tiến hành trao đổi viếng thăm cấp cao. Vì trong năm 2009, lãnh đạo cấp cao trong hệ thống Đảng, chính trị cũng như quân đội đều đã sang thăm Việt Nam. 6 tháng đầu năm, Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã sang thăm Việt Nam. Ủy viên Quốc vụ viện của Trung Quốc đã sang thăm Việt Nam. Có các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc cũng đã sang thăm.
Nếu chỉ nhắc đến các đồng chí lãnh đạo Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, tôi phải nói thẳng thắn rằng chương trình làm việc của lãnh đạo cấp cao hết sức bận rộn. Chúng tôi coi Việt Nam là anh em, sẵn sàng thúc đẩy quan hệ. Nếu điểm lại sẽ thấy những chuyến thăm cấp cao của Trung Quốc sang Việt Nam nhiều hơn so với chuyến thăm cấp cao của Trung Quốc sang các nước khác.
Chúng tôi nói vui rằng chúng tôi nợ rất nhiều các nước khác vì có một số nước trong 10 năm qua chưa có một đoàn cấp cao của Trung Quốc sang thăm. Chúng tôi phải trả nợ nhiều nước. Chúng tôi có chương trình bận rộn, coi Việt Nam là đồng chí, anh em nên chúng tôi phải trả nợ những đối tác khác trước.
Năm 2010, tôi xin hứa chắc chắn sẽ có lãnh đạo cấp cao nhất của Trung Quốc sang thăm Việt Nam.
VOV: Năm 2010, Việt Nam là Chủ tịch ASEAN. Vai trò mới của Việt Nam tác động như thế nào đến quan hệ hai nước cũng như quan hệ chung giữa Trung Quốc và ASEAN, nhất là trong bối cảnh từ 1/1/2010, Hiệp định Thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN có hiệu lực?
Chúng tôi chúc mừng Việt Nam đảm nhiệm cương vị hết sức quan trọng là Chủ tịch ASEAN năm 2010 và hoàn toàn tin tưởng Việt Nam sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách này. Quan hệ Trung Quốc và ASEAN trải qua chặng đường 30 năm và đang phát triển hết sức thuận lợi. Hiệp định Thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN sẽ tạo nên một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới với 1,9 tỷ người, GDP đạt 65.000 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4500 tỷ USD. Có thể nói đây là tin vui to lớn với các nước ASEAN và Trung Quốc.
Trên cơ sở đó sẽ thúc đẩy giao thương cũng như vận tải hàng hóa giữa các nước. Tuy nhiên vì là khu vực thương mại tự do do các nước đang phát triển hình thành, có nhiều hàng hóa của Trung Quốc và ASEAN giống nhau nên tạo ra thách thức lớn cho nhau. Nhưng thách thức này sẽ thúc đẩy các nước tiến hành điều chỉnh cơ cấu thành phần kinh tế ở các nước.
Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi nước, là thách thức lớn đối với phát triển kinh tế mỗi nước, nhưng là cơ hội dành cho phát triển thành phần kinh tế mới, thúc đẩy điều chỉnh, tái cơ cấu các thành phần kinh tế của Trung Quốc. Khu vực thương mại tự do Trung Quốc và ASEAN cũng tương tự, nên cần nắm bắt thời cơ thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu các thành phần kinh tế trong nước, làm thế nào hàng hóa mỗi nước có sức cạnh tranh.

  • Xuân Linh

Dự án Đền Lừ III: Dân đòi chính quyền giữ lời hứa

Cập nhật lúc 11:09, Thứ Ba, 05/01/2010 (GMT+7)
 – Người dân làng Hoàng Mai xưa, nay là phường Hoàng Văn Thụ (quận Hoàng Mai-Hà Nội), xót xa tự nhận làng mình là làng… chuyển mộ!

Chết rồi vẫn phải chuyển “nhà” 4 lần!

Mặc dù những ngày cuối năm bận rộn nhưng hàng trăm người dân phường Hoàng Văn Thụ (quận Hoàng Mai- Hà Nội) vẫn thay phiên cắt lượt nhau túc trực ngoài nghĩa trang Thanh Mai để  giữ… nghĩa địa làng.




Mô tả ảnh.
Hàng trăm người dân làng Hoàng Mai (nay là phường Hoàng Văn Thụ) đã từng phải chuyển mộ người thân của mình 3 lần. - Ảnh: K.T

Người dân chưa đồng tình với việc giải phóng mặt bằng nghĩa trang Thanh Mai để lấy đất cho dự án hợp tác kinh tế di dân Đền Lừ III và đấu giá quyền sử dụng đất đã được UBND TP Hà Nội phê duyệt từ năm 2005, giao mặt bằng cho BQL DA quận Hoàng Mai làm chủ đầu tư.
Theo họ, nếu tiếp tục di dời nghĩa trang Thanh Mai, các hộ dân trú tại làng Hoàng Mai xưa đã phải 4 lần di dời phần mộ tổ tiên. 


Ông Hoàng Đình Tiến (75 tuổi, tổ 41, phường Hoàng n Thụ) từng đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ tịch UBND xã rồi Chủ tịch UBND xã Hoàng n Thụ trong hơn 20 năm (từ năm 1970 và nghỉ hưu năm 1990), là người trực tiếp chỉ đạo 3 lần di dời nghĩa trang trước đây, khẳng định: “Có lẽ, Hoàng Mai là làng duy nhất và cực kỳ hiếm ở Việt Nam, khi phải di dời các phần mộ nhiều lần đến thế. Trong vòng hơn chục năm, cả làng đã phải 3 lần di chuyển các phần mộ của ông bà, tổ tiên mình để phục vụ các chính sách của nhà nước, địa phương”.


Ông Tiến cho biết: Lần di chuyển thứ nhất vào khoảng cuối năm 1977 đầu 1978, cả làng Hoàng Mai phải di chuyển các phần mộ từ 5 nghĩa địa khác trong xã (gồm mả Cả trên, dưới, mả Vẻ, mả Bầu, mả Trành) để nhường đất xây dựng công trình dân sinh di dân tái định cư dự án đường Đại Cồ Việt và đường dọc sông Kim Ngưu, (nay là tổ 57, 58 phường Tương Mai).


Địa điểm lựa chọn xây dựng nghĩa trang mới thuộc cánh đồng Thễn (ngày nay là tổ dân phố 45, 46 phường Hoàng Văn Thụ).




Mô tả ảnh.
Ông Hoàng Đình Tiến - nguyên chủ tịch UBND xã Hoàng Văn Thụ (cũ) - người trực tiếp chỉ đạo dân làng Hoàng Mai di dời nghĩa trang 3 lần trước đó. - Ảnh: K.T
Lần di chuyển mộ thứ hai vào các năm 1980, 1981. Nhà nước lại tiếp tục lấy hơn 100ha đất để xây dựng khu dân cư cho công nhân liên hiệp Dệt. Hàng ngàn ngôi mộ lại được người dân chuyển từ nghĩa trang đồng Thễn về cánh đồng Ao Đường. Tất cả các ngôi mộ chôn rải rác và phát tán tại các cánh đồng, ruộng chùa… cũng được di dời để quản lý tập trung tại nghĩa trang ngã tư. Nghĩa trang Thanh Mai được hình thành từ thời điểm đó tới bây giờ.


“Khi đó, chính đồng chí chủ tịch huyện Thanh Trì, ông Nguyễn Lạch, đã xuống vận động bà con yên tâm, vì đây sẽ là lần di chuyển mồ mả cuối cùng để phục vụ các dự án của nhà nước. Hơn nữa, nghĩa trang Thanh Mai là nơi có vị trí phong thủy, thuận tiện cho người dân chôn cất những người đã khuất, và cách khu dân cư của làng Hoàng Mai chừng hơn 1km.” – ông Tiến cho hay.


Lần thứ ba người dân làng Hoàng Mai tiếp tục phải di dời các phần mộ là vào các năm 1999; 2000. Dự án xây dựng đường vành đai (dự án Đền Lừ 1) được quy hoạch qua khu vực nghĩa trang Thanh Mai. Mặt khác, UBND quận Hoàng Mai chủ trương xây dựng hai khu nhà 5 tầng để phục vụ mục đích dân sinh trong đó có các hộ gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng.


Ủng hộ chính sách của Nhà nước, dân làng Hoàng Mai lại tiếp tục lùi nghĩa trang Thanh Mai vào sâu hơn 1ha. Sau rất nhiều lần di chuyển, nhiều gia đình đã bị thất lạc các phần mộ.


Gia đình ông Nguyễn Vân (tổ 34) di chuyển hơn chục ngôi, do nhiều lần di chuyển nên thất lạc chỉ còn lại 6 ngôi.


Gia đình cụ Ngô Trọng Hào (tổ 36) chuyển mộ từ Ao Đường về Thễn, từ Thễn về Thanh Mai chỉ còn có một ngôi mộ của người chị gái mất năm 2000 là xác định được.


Những ngôi mộ cổ hàng 7 trăm năm thuộc các 10 dòng họ lớn như dòng họ Vũ, dòng họ Ngô, Hoàng, Nguyễn Tiến, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Văn… Có cả ngôi mộ cổ Đại tướng quân Nguyễn Quý Công (thời Lê); ngôi mộ tổ họ Vũ (được xác định 7 đến 8 trăm năm) gắn với danh tướng Trần Khát Chân khi ông được triều đình ban thưởng làng Cổ Mai (tên cũ của làng Hoàng Mai) làm thái ấp vì có công lớn với triều đình…”.


 “Trong vòng chưa đầy 20 năm, cả làng phải 3 lần di chuyển nghĩa trang, đấy cũng là một điều không ai muốn, bởi tâm lý người Việt, ai cũng muốn tổ tiên mồ yên mả đẹp, chứ không phải động chạm đến nhiều lần. Tuy nhiên, những lần trước đó, người dân đều vui vẻ thực hiện mà không có bất cứ phản đối nào”.


Ông Tiến khẳng định, những lần di dời nghĩa trang trước, chính quyền chỉ thông báo bằng miệng qua cuộc họp tập thể hội nông dân, giải thích cho người dân về chính sách của nhà nước. Tất cả mọi người đều vui vẻ chấp hành. Do đó, việc vận chuyển, di dời mồ mả các lần trước đó đều do người dân chủ động, không cần tiến hành kê khai số lượng, không đòi hỏi đền bù.


Dân xin được giữ nghĩa trang làng


Rất nhiều các cụ cao niên trong làng Hoàng Mai đã được tập thể người dân bầu vào trong ban đại diện gồm 5 thành viên. Đây là những người chịu trách nhiệm thay bà con tập hợp ý kiến, chữ ký… của từng hộ dân để kiến nghị lên chính quyền địa phương, thiết tha xin được giữ lại nghĩa trang Thanh Mai. 




Mô tả ảnh.
Theo người dân, nghĩa trang Thanh Mai có ý nghĩa không chỉ về mặt tâm linh mà còn có giá trị về mặt lịch sử hình thành của ngôi làng cổ Cổ Mai ngàn năm tuổi. - Ảnh: Kiên Trung
Ông Vũ Đình Dậu (số nhà 6, tổ 33, phường Hoàng Văn Thụ) cho biết: nhân dân phường Hoàng Văn Thụ đã nhiều lần gửi kiến nghị lên UBND phường, UBND quận Hoàng Mai và UBND TP Hà Nội cùng các ban ngành để đề đạt nguyện vọng xin được giữ lại nghĩa trang Thanh Mai.  


Phương án mà người dân đề nghị, đó là xin được xây dựng, cải tạo nghĩa trang Thanh Mai như một công viên, sạch đẹp, tu sửa các phần mộ theo hàng lối, xây tường bao bốn xung quanh để không ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị.




Mô tả ảnh.
Ông Nguyễn Tiến Hà (ban đại diện tập thể người dân phường Hoàng Văn Thụ): "Thông báo về dự án đền Lừ III chỉ là hình thức, chứ người dân chưa từng được tiếp xúc với chính quyền địa phương để biết về dự án này!" - Ảnh: K.Trung.
Dự án đền Lừ III về xây dựng khu di dân tái định cư và đấu giá GSDĐ được UBND TP Hà Nội ký quyết định phê duyệt ngày 07/1/2005; tiếp theo đó là các quyết định số 726/QĐ-UBND ngày 15/2/2007; QĐ số 4374/QĐ – UBND ngày 05/11/2007 về việc thu hồi 85.331m2 đất tại phường Thịnh Liệt và phường Hoàng Văn Thụ. Theo đó, toàn bộ nghĩa trang Thanh Mai nằm trong sơ đồ quy hoạch.


Người dân phản ánh: dự án ký phê duyệt từ đầu năm 2005, thế nhưng, chưa bao giờ chúng tôi được trực tiếp làm việc với chính quyền phường và chính quyền quận. Tất cả các thông tin mà người dân biết được, đấy là qua các phương tiện thông tin đại chúng. Dân làng có nhận được thông báo của UBND phường Hoàng Văn Thụ, nhưng đó là nội dung yêu cầu người dân không tiếp tục sử dụng nghĩa trang Thanh Mai tại khu đô thị Đền Lừ để mai táng người chết.




Mô tả ảnh.
Dự án HTKT di dân Đền Lừ III và đấu giá QSDĐ nằm hoàn toàn trên phần đất của nghĩa trang Thanh Mai.  Ảnh: Kiên Trung


Mãi tới ngày 14/10/2009, sau gần 5 năm trời người dân kiên quyết giữ nghĩa trang, UBND quận Hoàng Mai mới tiếp xúc với gần 200 hộ dân. Tại buổi tiếp xúc này, ông chủ tịch UBND quận Hoàng Mai đã thừa nhận, đây là buổi tiếp xúc đầu tiên của chính quyền với dân. Chúng tôi đã ghi hình buổi làm việc và lời nói này của ông chủ tịch quận” – ông Nguyễn Tiến Hà – thành viên ban đại diện nhân dân cho biết.


Hiện tại, hàng trăm hộ dân phường Hoàng Văn Thụ vẫn tha thiết kiến nghị được giữ lại nghĩa trang Thanh Mai. 


  • Thái Linh



Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt - Trung

Từ khoảng năm 2000 cán cân thương mại của Việt Nam ngày càng nhập siêu. Quy mô nhập siêu lớn đến nỗi gây bất ổn trong kinh tế vĩ mô từ năm 2007. Một trong mấy nguyên nhân chính của hiện tượng nhập siêu này có thể thấy trong cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với Trung Quốc. Quyết tâm thay đổi cơ cấu này không những cải thiện được cán cân thương mại bất quân bình trầm trọng hiện nay mà còn là con đường để Việt Nam phát triển, tiến lên ngang hàng với trình độ phát triển của nước láng giềng phương bắc.
Tính chất "Bắc - Nam" trong quan hệ kinh tế Việt Trung
Từ thập niên 1950, một tiêu điểm nổi lên trong quan hệ kinh tế quốc tế là vấn đề Bắc - Nam. Các nước phát triển hầu hết là ở bắc bán cầu, các nước chậm tiến ở phía nam. Vấn đề ở chỗ là khoảng cách phát triển giữa Bắc và Nam ngày càng mở rộng. Làm sao để các nước phía Nam phát triển nhanh, thu hẹp khoảng cách với các nước phía Bắc là quan tâm chung của cộng đồng thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua.

Sự cách biệt kinh tế giữa các nước phía Bắc với các nước phía Nam phản ảnh rõ nét trong quan hệ ngoại thương. Các nước phía Bắc xuất khẩu hàng công nghiệp còn các nước phía Nam xuất khẩu nguyên liệu, các hàng nông, lâm, thuỷ sản ở dạng thô hoặc sơ chế.
Quan hệ buôn bán giữa Bắc với Nam với đặc tính như vậy còn được gọi là ngoại thương theo hàng dọc (vertical trade). Do đó, quá trình thu hẹp khoảng cách phát triển để giải quyết vấn đề Bắc Nam cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của các nước phía Nam để các nước nầy ngày càng xuất khẩu hàng công nghiệp sang phía Bắc, chuyển từ ngoại thương hàng dọc sang ngoại thương hàng ngang (horizontal trade).
Trong khoảng 35 năm qua, một số nước ở phía Nam đã làm được một kỳ tích là nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với phía Bắc, thay đổi hẳn quan hệ ngoại thương từ hàng dọc sang hàng ngang với các nước phía Bắc.
Hiện tượng này diễn ra ngoạn mục nhất là tại các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á, gọi chung là Đông Á. Tại đây, ngoài Nhật Bản, một nước vừa thuộc phía Bắc vừa là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các nước Đông Á khác cho đến thập niên 1970 điển hình là những nước ở phía Nam mà quan hệ của họ với Nhật, Mỹ và các nước phía Bắc khác mang nặng tính chất ngoại thương hàng dọc. Chẳng hạn, mới gần 30 năm trước đây, vào năm 1980, cơ cấu xuất khẩu của các nước ASEAN còn nghiêng về các mặt hàng nguyên liệu và nông lâm thuỷ sản: Tỉ lệ của các mặt hàng này trong tổng xuất khẩu của Thái Lan và Phi-li-pin còn chiếm tới 60%, Malaysia 70% và Indonesia hơn 90%. Nhưng chưa đầy 20 năm sau, vào năm 1999, các tỉ lệ đó chỉ còn 23% tại Thái Lan, 18% tại Malayxia, 7% tại Phi-li-pin và 47% tại Indônêxia. Hiện nay các nước này đã trở thành những nước xuất khẩu hàng công nghiệp đáng kể trên thế giới.
Quan hệ Nhật Bản và Trung Quốc mới 20 năm trước đây còn là quan hệ Bắc - Nam. Trước năm 1990, hàng nguyên liệu và các sản phẩm nông lâm thuỷ sản còn chiếm trên 50% tổng nhập khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên tỉ lệ này giảm nhanh trong thập niên 1990, còn 23% vào năm 1995 và chỉ còn 17% vào năm 2000.
Nói khác đi, hiện nay hàng công nghiệp chiếm tới hơn 80% tổng xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Nhật (trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc ra tất cả thị trường thế giới, tỉ lệ của hàng công nghiệp hiện nay đã tăng lên trên 90%).
Có thể nói trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi quan hệ ngoại thương với một nước công nghiệp tiên tiến có quá trình phát triển hơn 100 năm và là một nước vốn phụ thuộc vào tài nguyên của các nước phía Nam.
Bây giờ chúng ta xét quan hệ ngoại thương hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có ba đặc tính đáng chú ý:
Thứ nhất, Việt Nam ngày càng nhập siêu với Trung Quốc. Kim ngạch nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc tăng từ khoảng 200 triệu USD năm 2001 lên 1,4 tỉ năm 2003, gần 7 tỉ năm 2007 và độ 11 tỉ USD năm 2008. Năm 2008, nhập siêu với Trung Quốc chiếm tới 60% tổng nhập siêu của Việt Nam đối với toàn thế giới. Do đó, cải thiện quan hệ ngoại thuơng với Trung Quốc là biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng mất quân bình trầm trọng hiện nay trong cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai, so với quy mô ngoại thương giữa hai nước Việt - Trung, kim ngạch nhập siêu nói trên cũng quá lớn, lớn một cách dị thường. Chẳng hạn vào năm 2008, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 4,3 tỉ trong khi nhập từ Trung Quốc tới 15,1 tỉ USD. Nhập khẩu lớn gấp 4 lần xuất khẩu và nhập siêu lên tới mức bằng 3 lần kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất chậm, từ năm 2001 đến 2008 chỉ tăng 3 lần (từ 1,4 tỉ tăng lên 4,3 tỉ USD), trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng ồ ạt, từ 1,6 tỉ lên 15,1 tỉ trong cùng thời gian.
Ngoài ra, mậu dịch ở biên giới chưa được quản lý chặt chẽ. Nhiều điều tra sơ bộ cho thấy hàng lậu nhập từ Trung Quốc rất nhiều. Nếu mậu dịch biên giới được phản ảnh, có lẽ kim ngạch nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc còn lớn hơn nhiều.
Thứ ba, quan sát mặt cơ cấu ta thấy nổi cộm lên tính chất bắc nam trong quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc sản phẩm thô hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2007, riêng dầu thô, than đá đã chiếm gần 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc và nếu kể thêm cao su, gỗ, rau quả, trà, cà phê và những sản phẩm thô sơ khác, tỉ lệ đó lên tới 80%. Hàng công nghiệp chỉ chiếm độ 20%.
Cơ cấu ngoại thương Việt Trung như vừa thấy gợi ta nhiều suy nghĩ. Đây là một quan hệ ngoại thương Bắc - Nam điển hình, một quan hệ mậu dịch hàng dọc thường thấy giữa một nước tiên tiến và một nước chậm phát triển.
Cần xác lập tinh thần Nguyễn Trãi
Phân tích ở trên cho thấy vấn đề của Việt Nam hiện nay là phải làm sao tiến lên giai đoạn phân công hàng ngang trong quan hệ ngoại thương với Trung Quốc. Nói khác đi, Việt Nam phải sản xuất ngày càng nhiều các mặt hàng công nghiệp đủ sức cạnh tranh để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc và thâm nhập được vào thị truờng rộng lớn này. Có như vậy mới thoát khỏi tính chất Bắc - Nam hiện nay và cải thiện được cán cân mậu dịch.
Về chiến lược và biện pháp cụ thể liên quan đến việc phát triển công nghiệp Việt Nam, tôi đã có dịp trình bày trong cuốn sách xuất bản vài năm trước đây (Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005, NXB Trẻ tái bản năm 2006).
Ở đây tôi muốn kết nối kết quả phân tích này với một vấn đề thời sự đang được chú ý ở Việt Nam. Gần đây, dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên đã được chính phủ quyết định tiến hành khai thác thí điểm. Nhìn từ góc độ gìn giữ môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có ý kiến không đồng tình với việc khai thác này.
Theo tôi, dự án bô-xít Tây Nguyên, sau giai đoạn thí điểm, nếu thực hiện trên quy mô lớn sẽ bất lợi cho con đường phát triển của Việt Nam. Không kể đến những điểm đã được các nhà nghiên cứu, nhà văn hoá bàn đến, việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu không phải là chính sách khôn ngoan.
Xưa nay những nước phát triển được đều là những nước biết dùng tài nguyên chứ không phải biết khai thác và xuất khẩu tài nguyên. Khôn ngoan nhất (như Nhật hoặc Hàn Quốc) là khai thác hoặc mua nguyên liệu ở nước ngoài mang về nước mình chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị. Các sản phẩm dùng nhiều tài nguyên càng về hạ nguồn càng có giá trị tăng thêm cao nên những nước đó phát triển nhanh. Chí ít là khai thác và chế biến tài nguyên, dùng ngay tại nước mình để sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp có giá trị tăng thêm cao (như kinh nghiệm của Mỹ và nhiều nước Tây Âu).
Dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên còn có một đặc tính nữa là trong quá trình khai thác có sự tham gia của các công ty Trung Quốc và sản phẩm bô xít khai thác ra sẽ được bán sang Trung Quốc. Như vậy thì dự án này sẽ làm mạnh thêm tính chất Bắc - Nam trong quan hệ ngoại thương giữa hai nước, một khuynh hướng hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam.
Sau khi thắng giặc Minh, giành lại chủ quyền cho đất nước, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi nhấn mạnh thực thể độc lập, hiên ngang của nước Đại Việt, một đất nước đã sánh vai được với cường quốc phương bắc:
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương...
Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung. Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất bắc nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.
Cũng theo Nguyễn Trãi, so với Trung Quốc, nước Đại Việt trước đây "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu". Rất mong Việt Nam ngày nay cũng không thiếu "hào kiệt".
(Nội dung bài viết đã đăng tải trên Diễn Đàn Tết Kỷ Sửu và trên Thời báo kinh tế Sài Gòn vào tháng 3 năm 2009. Lần này, viết lại cho Tuần Việt Nam, tác giả cập nhật một số thống kê và sửa đổi vài nội dung liên quan đến thời sự)
* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, mời độc giả cùng tranh luận.

Vẫn còn nhiều cản ngại khiến kinh tế Việt Nam không thể tăng trưởng bền vững

 Thanh Phương
Bài đăng ngày 04/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày  04/01/2010 14:45 TU
Tiến sĩ Nguyễn Quang A
Tiến sĩ Nguyễn Quang A
Bộ Tài chính Việt Nam lo ngại trong năm 2010 nguy cơ tăng lạm phát ngày càng rõ nét, khu vực tiền tệ vẫn còn nhiều rủi ro, thị trường vàng có nhiều biến động. Thâm thủng ngân sách, thâm thủng thương mại và cán cân thanh toán khiến cho cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể bền vững.
Theo các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố ngày 31/12/2009, trong năm 2009 mức tăng trưởng của Việt Nam là 5,52%, sụt giảm so với mức 6,18% của năm ngoái. Đối với Tổng cục Thống kê, đây là một thành công lớn, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục suy thoái, thế nhưng cơ quan này cũng nhìn nhận rằng chất lượng và hiệu quả chưa cao, nên tăng trưởng chưa thật vững chắc. Hơn nữa, như nhận định của Bộ Tài chính Việt Nam, trong năm 2010, nguy cơ tăng lạm phát ngày càng rõ nét trong khi khu vực tiền tệ vẫn còn nhiều rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh thị trường vàng có nhiều biến động.
Tại cuộc hội thảo về chủ đề Kịch bản kinh tế Việt Nam năm 2010, diễn ra ngày 1/12 tại Sài Gòn, một số chuyên gia cũng đã cảnh báo rằng còn rất nhiều rủi ro vĩ mô khác, như thâm thủng ngân sách, thâm thủng thương mại và cán cân thanh toán, khiến cho cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể bền vững.
Theo các nhà phân tích, với mức thâm thủng mậu dịch vẫn ở mức cao, tức là hơn 12 tỷ đôla, Việt Nam bị áp lực nhiều hơn các quốc gia khác của châu Á, vốn cũng đã ra khỏi khủng hoảng.
Về thâm thủng ngân sách nay cũng đã chiếm tỷ lệ lên tới 7% tổng sản phẩm nội địa GDP, một phần do chính phủ đã chi ra nhiều tiền cho kế hoạch kích cầu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm qua cũng đã sụt giảm mạnh với số vốn đầu tư cam kết chỉ đạt khoảng 16 tỷ đôla, so với mức 64  tỷ đôla của năm 2008. Đầu tư nước ngoài hiện vẫn còn gặp nhiều cản ngại ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém.
Trong một cuộc hội thảo khác về kinh tế Việt Nam 2009 và cơ hội đầu tư năm 2010, diễn ra ngày 20/12 vừa qua cũng tại Sài Gòn, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu chương trình giảng dạy Fullbright của Mỹ, đã nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng của công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua phụ thuộc chủ yếu vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp khai khoáng như than đá, dầu thô.
Ủy ban kinh tế của Quốc hội Việt Nam gần đay cũng đã lưu ý rằng trong điều kiện hiện nay, không nên tập trung vào tăng tốc độ tăng trưởng mà nên chú trọng đến chất lượng tăng trưởng.
Riêng đối với tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những nhà kinh tế hàng đầu ở Việt Nam, trong nền kinh tế Việt Nam đã tồn tại những căn bệnh kinh niên từ nhiều năm nay. Mời quý vị nghe phần phỏng vấn sau đây với ông Nguyễn Quang A :

Phỏng vấn TS Nguyễn Quang A


Tuesday, January 5, 2010

Hỗ trợ sau bão số 9: dân ra rìa, “quan” lọt sổ

Cập nhật lúc 20:39, Thứ Hai, 04/01/2010 (GMT+7)
 - Trong khi hàng chục hộ dân có nhà bị sập hoàn toàn trong cơn bão số 9 vừa qua không được nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước thì nhiều gia đình là cán bộ xã, thôn, xóm lại được nhận mặc dù những gia đình này không bị thiệt hại lấy một viên ngói. Chuyện xảy ra ở xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi).

Không được hỗ trợ vì không có sổ đỏ?

Xã Bình Mỹ là một trong hai địa phương bị thiệt hại nặng nề nhất ở tỉnh Quảng Ngãi trong cơn bão số 9 chỉ sau xã Bình Minh.

Đã 3 tháng trôi qua, nhưng hiện nay hàng chục hộ dân ở nơi đây vẫn còn sống cảnh tạm bợ trong những túp lều bởi nhà cửa bị sập hoàn toàn và việc xây dựng lại nhà nằm ngoài khả năng của những hộ dân nơi. Điều đáng nói là hàng chục hộ có nhà bị sập hoàn toàn vẫn chưa nhận được một khoản hỗ trợ nào.


Nhà Chủ tịch xã Bình Mỹ và Trưởng thôn không bị thiệt hại nhưng nằm trong danh sách hỗ trợ. Ảnh: Bảo Minh
Từ khi cơn bão số 9 làm sập nhà đến nay, bà Nguyễn Thị Thơm, xóm Thị Tứ, thôn Thạch An, xã Bình Mỹ cùng chồng và 5 đứa con sống trong túp lều tạm bợ.

Bà cho biết, sau khi nhà bà bị sập, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện, xã kiểm tra xác nhận nhà bà bị thiệt hại 95% và gia đình bà đã ký xác nhận. Sau đó ít lâu, chính quyền xã cho biết bà không được nhận tiền hỗ trợ vì nhà bà chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Kế bên nhà bà Thơm là nhà anh Phan Đông Thảo. Ngôi nhà vách xây, mái ngói cấp 3 của vợ chồng anh Thảo giờ chỉ còn lại là nền đất trống với ngổn ngang gạch, ngói. Ba tháng nay vợ chồng anh Thảo phải đi ở nhờ nhà người quen vì không có tiền để xây dựng lại nhà, tiền hỗ trợ thì không có. Anh cho biết, chính quyền địa phương cũng có đến thống kê và yêu cầu anh ký xác nhận là nhà sập 100%, nhưng đợi hoài gia đình anh vẫn không thấy hỗ trợ. Khi hỏi thì xã cho biết, nhà anh thiếu sổ đỏ nên không được nhận hỗ trợ.

Trong số hàng chục hộ có nhà bị sập do bão số 9 gây ra, có một trường hợp khá đặc biệt, đó là gia đình anh Phạm Văn Nhân. Trong cơn bão số 9 vừa qua, khi đang  chống nhà cửa thì bất ngờ anh nghe tiếng kêu cứu thất thanh. Anh liền bỏ dở việc  chống nhà, rồi gọi đứa em ruột cả hai bơi ra nơi phát ra tiếng kêu cứu. Thấy 11 người đang chới với giữa dòng lũ dữ, bất chấp nguy hiểm, hai anh em anh Nhân đã dũng cảm cứu sống sống được 11 người.

Khi trở về, thì ngôi nhà của anh đã bị bão, lũ làm sập hoàn toàn. Sau đợt cứu được 11 người này, hai anh em anh Nhân đã được Chủ tịch UBND huyện tặng giấy khen vì hành động dũng cảm của mình. Riêng ngôi nhà của anh, mặc dù sau đó được chính quyền đến xác minh là sập hoàn toàn, thế nhưng đã 3 tháng trôi qua, anh chờ "dài cổ" vẫn chưa nhận được một khoản hỗ trợ nào của Nhà nước, ngoài những thùng mì gói, quần áo của các tổ chức cá nhân từ thiện đến trao tặng trực tiếp.

Hôm xã thông báo anh không được nhận hỗ trợ 10 triệu đồng của Nhà nước dành cho gia đình có nhà bị sập, nguyên nhân là nhà phía sau xây lấn ra đất ruộng 2m mặc dù đó là đất của anh. Hiện cuộc sống gia đình anh hết sức khó khăn, anh phải che tạm túp lều để ở qua ngày.


Anh Phạm Văn Nhân với giấy khen do Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn tặng vì hành động anh dũng cứu sống 11 người. Ảnh: Minh Bảo

Ngoài những hộ gia đình được địa phương vin vào lý do không có sổ đỏ nên không nhận được hỗ trợ, nhiều hộ mặc dù có sổ đỏ nhưng vẫn không được nhận hỗ trợ như trường hợp của anh Võ Đình Phùng, thôn Thạch An.

Anh Phùng cho biết, anh thuê đất lâu dài của anh Bùi Tấn Hoa (có sổ đỏ) để làm nhà ở. Trong trận bão số 9 vừa qua, nhà anh bị sập hoàn toàn nhưng không được hỗ trợ bởi lý do sổ đỏ không phải của anh mà của người khác (?!).

Điều đáng nói, là trong hàng chục hộ dân có nhà bị sập không được hỗ trợ với nhiều lý do mà chính quyền địa phương đưa ra thì rất nhiều trường hợp nhà vẫn ngon lành, không bị thiệt hại gì hoặc chỉ bị bay vài viên ngói lại được nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước.

Điển hình nhất là gia đình của ông Chung Quang Bắc, Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ. Trong danh sách nhận tiền hỗ trợ nhà thiệt hại trên 60%, nhà Chủ tịch UBND xã nằm trong diện này được nhận 4 triệu đồng, nhưng do vợ chủ tịch xã là chị Trần Thị Phụng đứng tên. Mặc dù khai nhận nhà bị hư hại trên 60% nhưng khi chúng tôi tận mắt chứng kiến thì hầu như ngôi nhà của vợ chồng Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ còn khá nguyên vẹn, thậm chí không hư lấy một viên ngói.

Cũng giống như nhà của Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ, nhà của ông Huỳnh Thậm, Xóm trưởng xóm 3, thôn Thạch An cũng nhận hỗ trợ 4 triệu đồng dành cho gia đình bị thiệt hại trên 60% cho ngôi nhà không bị thiệt hại nặng nề.

Không chỉ vậy, trong việc hỗ trợ hàng cứu trợ lụt bão, nhiều gia đình đã chuyển vào TP.HCM sinh sống đã chục năm thậm chí có người đã chết cách đây hơn 30 năm nhưng không hiểu vì lý do gì vẫn có trong danh sách nhận hỗ trợ.

Xã chỉ thực hiện chỉ đạo của huyện!

Trao đổi với chúng tôi về những trường hợp bị thiệt hại nặng nhưng không được nhận hỗ trợ của Nhà nước, ông Chung Quang Bắc, Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ cho biết, trong trận bão số 9, xã Bình Mỹ có 99 hộ có nhà bị sập hoàn toàn, 93 hộ có nhà bị sập trên 60% và 295 hộ có nhà bị sập từ 40-60%.

Đối với những hộ có nhà bị sập hoàn toàn thì hiện có 71 ngôi nhà được nhận hỗ trợ của Nhà nước (10 triệu đồng/nhà), còn 25 nhà vẫn chưa được nhận, bởi không có sổ đỏ. Còn với nhà bị hư hại trên 60% thì có 66 hộ được nhận, 33 hộ chưa được nhận đồng nào.

Thế nhưng phần lớn những hộ gọi là “xây dựng nhà trái phép” theo nghĩa của chính quyền địa phương nói là những hộ gia đình đã xây dựng nhà cách đây hàng chục năm và họ vẫn đóng đầy đủ thuế nhà đất và không tranh chấp với ai.


Nhiều nhà bị hư hại hơn 60% như thế này vẫn không có trong danh sách nhận hỗ trợ. Ảnh: Minh Bảo

Ông Bắc cho biết bản thân cũng muốn cho những hộ dân có nhà bị sập này được hỗ trợ bởi đây là những hộ có cuộc sống hết sức khó khăn, đặc biệt là hộ anh Phạm Văn Nhân bỏ việc chống nhà cửa để lao ra dòng lũ dữ cứu sống được 11 người nhưng đây là ý kiến chỉ đạo của Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn nên xã không dám làm trái.

Theo ông Bắc, trong cuộc họp ngày 7/10/2008, theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo huyện thì những ngôi nhà xây dựng không phép, không sổ đỏ thì không được hỗ trợ, nếu địa phương nào làm trái ý thì lãnh đạo xã bị kỷ luật.

Đối với những trường hợp những hộ không bị thiệt hại nhưng vẫn được liệt vào hư hại 60% trở lên để nhận hỗ trợ 4 triệu đồng của Nhà nước thì ông Bắc cho rằng do bận quá nhiều công việc nên chưa đi kiểm tra được.


  • Minh Bảo

,

Sử dụng hackers đánh phá trí thức hải ngoại

2010-01-04
Sau khi bọn tin tặc tấn công trang mạng Bauxite Việt Nam. Ngoài ông Phạm Toàn trong nước bị chúng mạo danh để gây chia rẽ trong nội bộ Ban biên tập, còn có một vài trí thức gốc Việt ở nước ngoài từng tham gia đóng góp bài cho trang mạng Bauxite Việt Nam cũng bị chúng tấn công.

AFP photo
Internet (ảnh minh họa)

Một trong những đối tượng bị bọn tin tặc nhắm đến có ông Phùng Liên Đoàn hiện ở Hoa Kỳ.
Trong cuộc nói chuyện với Biên tập viên Gia Minh của Đài chúng tôi, ông Phùng Liên Đoàn cho biết những ý kiến xoay quanh hành động của bọn tin tặc nhắm vào ông, cũng như nhận định về hành xử của chính quyền Hà Nội đối với giới trí thức.
Ném đá dấu tay
Ông Phùng Liên Đoàn: Tôi là đối tượng bị tấn công vì tôi giúp cho những người làm trang chủ đăng bài của tất cả những trí thức trong và ngoài nước. Họ là tiếng nói chân chính. Tôi là người ở nước ngoài lâu năm rồi, thấy họ muốn đem lại sự thực, ấm no hạnh phúc cho người dân nên tôi giúp cho họ. Với lý do đó có người tấn công tôi, vu khống cho tôi thuộc các đảng phái chính trị nọ kia. Đó là họ chỉ nói bừa thôi, nhưng tôi đã nói thẳng và có thư thẳng cho phía tấn công tôi. Sau đó thì họ im luôn.
Họ là những ‘kẻ ném đá giấu tay’. Họ bỏ ‘bọ’ vào hộp thư điện tử của tôi, và hộp thư của những người làm trang web ‘bauxitevietnam.com’; từ đó chúng biết hết. Chúng không những đánh tôi mà còn đánh hai người trí thức khác ở bên Pháp nữa

Ô.Phùng Liên Đoàn

Họ là những ‘kẻ ném đá giấu tay’. Họ bỏ ‘bọ’ vào hộp thư điện tử của tôi, và hộp thư của những người làm trang web ‘bauxitevietnam.com’; từ đó chúng biết hết. Chúng không những đánh tôi mà còn đánh hai người trí thức khác ở bên Pháp nữa, là nhà vật lý Phạm Xuân Yêm và nhà vật lý Đặng Đình Dũ, hai ông này về hưu rồi. Tôi cũng là nhà  khoa học về hưu. Họ thấy không có gì có lợi cho họ thì họ đánh loạn lên thôi.
Ba ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng chủ trương trang web ‘bauxitevietnam.com’ cũng giống ‘cá nằm trên thớt’. Những kẻ xấu đó muốn làm hại họ thì có thể làm, ví dụ bây giờ đường dây điện thoại của ông Nguyễn Huệ Chi đã bị cắt rồi không gọi được nữa. Những người biểu tình cho Hoàng Sa- Trường Sa bị bắt vào tù; thì những kẻ xấu cũng đang tìm cách vu khống ba ông vừa nêu. Những kẻ này đang cố tìm trong những thư từ mà chúng tôi trao đổi. Nếu mà tìm thấy có gì muốn lật đổ hoặc ‘diễn biến hòa bình’ thì sẽ bắt ra tòa.
Lâu nay chúng tôi chỉ là trí thức muốn nêu ra sự thực mà thôi nên không lo về điều đó.
Gia Minh: Việc giúp đỡ của ông cho nhóm làm trang web bauxitevietnam là như thế nào?
Ông Phùng Liên Đoàn: Tôi giúp bằng cách viết bài cho họ như những bài về nhà máy điện hạt nhân. Đó là ngành chuyên môn của tôi. Tôi thấy không nên làm mà con cháu sau này phải trả nợ. Chúng tôi nói những điều ích nước lợi dân; nhưng lại trái tai với những nhóm lợi ích.
Chúng tôi nói sự thực trên phương diện khoa học.
Lực lượng này làm đủ mọi chuyện hết trong khi đó công an ngoảnh mặt làm ngơ. Những điều đó khiến chúng tôi lo sợ liệu nước Việt Nam chúng ta có luật pháp hay không, hoặc liệu luật pháp có dung túng cho bọn mafia hay không.
Ô.Phùng Liên Đoàn


Việt Nam thực sự có luật pháp không?
Gia Minh: Ông thấy cách hành xử đối với trí thức như thế thì sẽ có những hệ lụy sâu xa gì?
Ông Phùng Liên Đoàn: Ông chủ tịch nước đi ra ngoại quốc nói là Việt Nam có luật riêng ở trong nước. Thực tế thì không biết ai lãnh đạo những nhóm mafia dám đánh cả những người tu hành ở Bát Nhã, đánh những người tranh đấu cho nhân quyền như Trần Khải Thanh Thủy ngay  giữa ban ngày. Lực lượng này làm đủ mọi chuyện hết trong khi đó công an ngoảnh mặt làm ngơ. Những điều đó khiến chúng tôi lo sợ liệu nước Việt Nam chúng ta có luật pháp hay không, hoặc liệu luật pháp có dung túng cho bọn mafia hay không.

Chúng tôi nêu ra những dấu hỏi đó như nhiều người khác đã nêu ra. Đại sứ Thụy Điển, đại sứ Mỹ tại Việt Nam đều nói cần có tự do Internet. Trang web bauxitevietnam là trang hoàn toàn đứng đắn không hề có chính trị,chỉ chống những điều xấu, ủng hộ chuyện tốt trong xã hội mà lại bị đánh phá. Như thế phải đặt vấn đề người đánh phá đó là ai. Những người đứng trong bóng tối, len lỏi vào các hộp thư điện tử là những kẻ đi ăn trộm tin tức bỉ ổi. Những người đó lại xem chúng tôi- những công dân yêu nước- là thù địch; vậy những người đó là ai? 

Như thế phải đặt vấn đề người đánh phá đó là ai. Những người đứng trong bóng tối, len lỏi vào các hộp thư điện tử là những kẻ đi ăn trộm tin tức bỉ ổi. Những người đó lại xem chúng tôi- những công dân yêu nước- là thù địch; vậy những người đó là ai? 

Ô.Phùng Liên Đoàn


Gia Minh: Theo ông thì trí thức Việt Nam trong và ngoài nước có cách gì để vượt qua tình trạng đó không?
Ông Phùng Liên Đoàn: Những người ở trong nước phải chịu sự khống chế của chính phủ. Những người mà tôi biết không ai chủ trương bạo động cả; họ cũng chỉ là công dân thôi. Thế mà họ cũng bị bịt miệng như ông Nguyễn Văn Lý trước tòa, thế nên chuyện ‘sau lưng’ thì sao mà biết được. Chúng tôi chỉ đặt vấn đề dân chủ trong nước là dân chủ chân chính hay giả hiệu, tự do thật hay tự do nói dối. Chúng tôi không thể làm gì hơn lẽ phải cho phép mình làm.
Gia Minh: Để bảo vệ cho lẽ phải thì cần làm gì?
Ông Phùng Liên Đoàn: Đại sứ Michalak, Liên hiệp Châu Âu cũng nói- tiếng nói của họ trọng lượng hơn chúng tôi rất nhiều. Còn chúng tôi là những công dân bình thường. Chúng tôi trọng sự tự do, cũng như những người trong nước không muốn bạo động; vì chính quyền sẽ vin vào đó mà bắt ngay. Chúng tôi chỉ mong chính phủ Việt Nam từng long trọng cam kết theo luật nhân quyền của quốc tế, long trọng cam kết theo những điều lệ của WTO, thì cũng hãy long trọng ‘thành thực’ chứ  không dối trá. Chúng tôi chỉ đi được đến đó chứ không thể đi xa hơn nữa.
Gia Minh: Cám ơn Ông.

Phó chủ tịch huyện đánh bà cụ bật máu mũi

Mấy ngày qua, dư luận huyện Mộc Hoá - Long An xôn xao về chuyện ông phó chủ tịch huyện này đánh cụ già 61 tuổi trên tay đang bế cháu nhỏ. Cú đánh đã làm nạn nhân phải đi cấp cứu ở bệnh viện, đứa cháu nhỏ cũng bị trúng đòn lây.

Sau khi đánh người, ông phó chủ tịch huyện đã thương lượng bồi thường 1 triệu đồng rồi 5 triệu đồng...

Theo tường thuật của bà Lê Thị Chiến (ngụ thị trấn Mộc Hoá, huyện Mộc Hoá), tối 24-12, bà dắt 2 đứa cháu ngoại đến nhà văn hoá thiếu nhi huyện Mộc Hoá chơi trò chơi. Vì là lễ Giáng sinh, người rất đông, bà Chiến không chen mua vé được.

Tại Mộc Hoá, cách nay không lâu đã xảy ra 1 vụ đánh người trong bàn nhậu có liên quan đến cán bộ huyện. Vị cán bộ này đã bị cách chức và bị kỷ luật Đảng.

Hơn 2 năm qua, Tỉnh ủy Long An đã rất kiên quyết với nạn nhậu nhẹt trong cán bộ, viên chức bằng chỉ thị 177 về cấm uống rượu trong ngày làm việc. Thế nhưng tình trạng cán bộ nhậu vô độ sau khi hết giờ làm việc vẫn còn khá phổ biến.

Bà nhờ một người đàn ông đứng gần mua vé hộ, nhưng người này lớn tiếng hỏi: "Bà biết tôi là ai không mà nhờ?". Bà trả lời không biết.

Người đàn ông nói nếu không biết thì dắt cháu về, không được ở lại chơi. Bà Chiến nghe vậy nên không chịu về.

Người đàn ông dọa: "Bà có tin là tôi dám đánh bà không?". Bà Chiến thách thức: "Chú muốn đánh thì cứ đánh".

Người đàn ông tức thì đấm thẳng vào mặt bà Chiến làm bà phun máu mũi, phải đi cấp cứu tại bệnh viện huyện. Đứa cháu nhỏ được bà Chiến bế trên tay cũng bị đánh trúng.

Trở về nhà từ bệnh viện, bà Chiến mới biết người đánh mình là ông Trần Hoài Bảo – Phó Chủ tịch UBND huyện Mộc Hoá. Sở dĩ ông Bảo có mặt tại Nhà văn hoá thiếu nhi và hành hung bà Chiến là vì vợ ông kinh doanh trò chơi tại đây.

Ngày hôm sau xảy ra vụ việc, ông Bảo đã đến gặp bà Chiến nhận lỗi và xin bồi thường số tiền 1 triệu đồng, nhưng bà Chiến không chịu nhận và làm đơn gửi đến các cơ quan pháp luật, tố giác hành vi đánh dân của ông Bảo. Ông Bảo lại đến gặp bà Chiến xin bồi thường 5 triệu đồng...

Ngày 31-12-2009, ông Trương Minh Nhựt –Bí thư Huyện ủy Mộc Hoá - cho biết, Huyện ủy đã nhận đơn tố cáo của bà Chiến, nhưng sau đó bà đã chủ động rút đơn. Dù vậy, Huyện ủy và UBND huyện cũng sẽ xem xét xử lý nghiêm túc vụ việc.

UBND tỉnh Long An cũng đã được thông báo và có ý kiến chỉ đạo xử lý nhanh vụ việc. Theo tường thuật của ông Bảo, ông chỉ vô ý quơ tay trúng vào mặt bà Chiến.

Còn theo những người chứng kiến và theo bà Chiến, tối hôm đó ông Bảo có biểu hiện say rượu nên không tự chủ được hành động.

Theo Kỳ Quan
Lao Động

Thứ trưởng Ngoại giao sẽ tiếp hạ nghị sĩ Mỹ gốc Việt

Cập nhật lúc 21:55, Thứ Hai, 04/01/2010 (GMT+7)
 - Tại buổi họp báo chiều nay (4/1), Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết về chuyến thăm Việt Nam của đoàn Nghị sĩ Hoa Kỳ trong đó có ông Cao Quang Ánh (Joseph Cao).
Ông Sơn cho biết ông sẽ có tiếp ông Cao Quang Ánh vào ngày mai và "sẵn sàng trao đổi thắng thắn các vấn đề cùng quan tâm và còn có bất đồng".
Về số lượng kiều bào về quê ăn Tết năm nay, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UB Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn cho biết số lượng này sẽ không ít hơn năm ngoái, khoảng trên dưới nửa triệu người.

Mô tả ảnh.
Ảnh: Đức Cát
Theo ông Sơn, thành công của Hội nghị Người Việt Nam ở nước ngoài vừa qua góp phần không nhỏ khẳng định chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với kiều bào, góp phần làm cho càng ngày càng có nhiều kiều bào hướng về quê hương.
Liên quan đến lượng kiều hối được gửi về năm nay, tuy chưa có con số thống kê đầy đủ nhưng ông Sơn cho biết con số sẽ giảm chút ít so với năm ngoái do bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới.
Tuy nhiên cũng theo ông Sơn, khủng hoảng tài chính ảnh hưởng lớn đến bà con kiều bào ở các nước công nghiệp phát triển nhưng đặc biệt bà con ở các nước Đông Âu, tình hình vẫn tốt, các dự án lớn của bà con đầu tư về Việt Nam vẫn phát triển rất tốt.
"Vì vậy lượng kiều hối năm nay sẽ giảm so với năm ngoái nhưng lượng giảm không quá lớn", Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn khẳng định.
Năm ngoái lượng kiều hối gửi về Việt Nam là trên 7 tỷ USD
Cũng tại buổi gặp gỡ báo chí chiều nay (4/1) chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về Hải Phòng đón kiều bào về nước, ban tổ chức cho biết hơn 300 kiều bào (hồi hương trong các năm 1960-1964, kiều bào đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam)... sẽ về dự buổi lễ. 
50 năm trước, ngày 10/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ, MTTQ Việt Nam đã về cảng Hải Phòng cùng bốn vạn nhân dân thành phố đón chuyến tàu biển đầu tiên đưa 992 kiều bào từ Thái Lan về nước. 


  • Đức Cát
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn nghĩ gì về người Việt Nam ở nước ngoài:

Monday, January 4, 2010

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Việt Nam cần tạo bước ngoặt đột phá để phát triển

Năm 2009, Việt Nam đã bước qua ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Nhìn lại 10 năm đầu của thế kỷ 21, chúng ta rút ra được những bài học gì, những kinh nghiệm gì để chuẩn bị cho bước phát triển của thập kỷ tiếp theo và lâu hơn nữa. Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh xung quanh vấn đề này.

* PV: Ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế Việt Nam năm 2009?

* TS LÊ ĐĂNG DOANH:
Năm 2009, VN đã vượt qua được tác động của cuộc khủng hoảng tương đối nhanh, nhưng không nhẹ nhàng, hệ quả của nó không thể xem thường. Cùng với đà hồi phục kinh tế thế giới, VN đã tăng trưởng trở lại nhờ những gói kích thích kinh tế của chính phủ, hỗ trợ lãi suất… Nhưng quan trọng là sự nỗ lực của các doanh nghiệp (DN) và nhờ vào một nền nông nghiệp hoạt động có hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực… Người lao động đã có việc làm trở lại mặc dù người lao động trong lĩnh vực phi hình thức như làng nghề, hộ cá thể, thợ thủ công vẫn còn khó khăn.

* Nhìn lại 10 năm qua, theo ông, kinh tế VN đã có những phát triển như thế nào?

* Trong 10 năm qua, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng. Cơ cấu xuất khẩu vẫn chủ yếu là dầu thô, than đá, cà phê hạt, da giày, may mặc… là những sản phẩm có ít giá trị gia tăng, ít hàm lượng chất xám, trí tuệ của dân tộc VN, con người VN.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2006, 73% tổng tài sản quốc gia của VN là tài nguyên thiên nhiên, 20% là tài sản vốn vật chất đã xây dựng (như kết cấu hạ tầng) và chỉ khoảng 7% là tài sản vốn vô hình (tri thức, vốn con người được đào tạo, công nghệ...) trong khi ở các nước OECD (có thu nhập trên 10.000 USD/người), các chỉ số này là 2%, 17% và 80%.
Hiện nay, việc khai thác tài nguyên VN đã đi gần đến giới hạn tự nhiên. Trong khi đó, từ năm 2006 đến nay, trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), VN tụt liên tục 11 bậc so với trước đó, từ 64 xuống 75/133 nền kinh tế, còn Trung Quốc tăng liên tục, từ 35 lên thứ 29/133.

VN đang đứng trước yêu cầu bức bách phải cải cách để nắm bắt cơ hội phát triển. Chúng ta đã có tiến bộ trong việc thực hiện đội nón bảo hiểm… nhưng trật tự giao thông và giảm tai nạn giao thông chậm tiến bộ. Chúng ta đã dùng những ngôn từ mạnh mẽ nhất để lên án nạn tham nhũng như “nội xâm”, đã ban hành Luật Chống tham nhũng, nhưng kết quả chống tham nhũng trên thực tế còn rất hạn chế.

Trong 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999, đã bãi bỏ được 186 giấy phép con, nhưng nền hành chính của chúng ta đã thay đổi bao nhiêu khi số giấy phép con đã tăng lên quá số đã bãi bỏ. Chúng ta có nhiều năm cố gắng nâng cao chất lượng giáo dục, cải cách giáo dục nhưng rõ ràng là chưa đạt hiệu quả mong muốn. Chúng ta mới chủ yếu xuất khẩu lao động tay nghề thấp, chưa xuất khẩu được bác sĩ, chuyên gia giỏi được đào tạo từ nền giáo dục của chúng ta.
Ô nhiễm môi trường sống tại thành thị và nông thôn ngày càng trầm trọng hơn. Vụ hơn 3.000m³ gỗ trôi xuống hạ nguồn sau cơn bão số 9 vừa qua cho thấy mức độ phá rừng rất nghiêm trọng, không đơn thuần là những vụ phá rừng lẻ tẻ do lâm tặc mà đây là những vụ phá rừng có quy mô lớn. Rõ ràng là trong những lĩnh vực kể trên, chúng ta đã tiến lên rất chậm, dưới sự mong đợi của người dân.

* Kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường, theo ông, chúng ta cần làm gì để phát triển căn cơ, bền vững hơn?

* Thay vì tăng trưởng theo chiều rộng, chúng ta phải tăng trưởng theo chiều sâu, tạo thêm giá trị gia tăng cao hơn từ mỗi đơn vị nguyên liệu, nhiên liệu. Thay vì tăng lượng gạo xuất khẩu, chúng ta phải nâng cao chất lượng gạo, giảm thất thoát sau thu hoạch, chế biến các sản phẩm từ gạo, từ cà phê, từ các sản phẩm thủy sản, nông sản thay cho xuất thô như hiện nay. Để đạt được điều này, chúng ta không chỉ đầu tư vào công nghệ, đào tạo lao động mà cần có kết cấu hạ tầng hiện đại, bộ máy hành chính chuyên nghiệp, trong sạch, doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế. Không thể chấp nhận gạo, cà phê, hàng thủy sản Việt Nam chỉ xuất thô trong khi lao động cần việc làm.

Chúng ta cần tạo bước ngoặt, một bước phát triển vượt bậc. Trước hết phải tiếp tục cải cách thể chế cho nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường phát huy sự năng động, sáng tạo và huy động nguồn vốn từ nhân dân; cải cách bộ máy nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. Người dân có quyền tiếp cận thông tin, cần ban hành luật về trưng cầu dân ý, vận động hành lang và thực thi các luật một cách nghiêm túc. Có những cơ quan chăm lo lợi ích lâu dài cho dân tộc và không bị tác động bởi những lợi ích nhóm.

Về giáo dục, cần đào tạo người lao động VN có kỹ năng, kỷ luật, khao khát sáng tạo, năng lực sáng tạo và có không gian sáng tạo một cách thực chất. Có không ít sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài tuy muốn về Việt Nam làm nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại phải ra nước ngoài. Không hẳn vì tiền mà vì họ không có đủ không gian sáng tạo, một môi trường làm việc để phát huy hết khả năng, và một môi trường tôn trọng người lao động. Hiện nay, hầu hết sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học đều giỏi đến hết năm thứ 2 vì đây là thời gian học những môn cơ bản. Nhưng sang những năm tiếp theo, khi học những môn đòi hỏi tư duy độc lập, sáng tạo thì số sinh viên giỏi của Việt Nam giảm rất nhiều và đến khi tốt nghiệp thì số sinh viên giỏi còn rất ít.

Giáo dục là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn dân, hiện nay ngành giáo dục của chúng ta đang nỗ lực một cách đơn độc mà chưa thật sự có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Không chỉ cải cách giáo dục mà phải cải tổ cả hệ thống. Đây là trách nhiệm của toàn xã hội, của toàn dân.

* Xin cảm ơn ông!  

Nhà nước dễ trở thành... con nợ!

Lao Động số 2 Ngày 04/01/2010 Cập nhật: 8:13 AM, 04/01/2010


(LĐ) - Từ 1.1, người dân và tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong 3 lĩnh vực hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án có quyền yêu cầu và Nhà nước phải bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia pháp luật thì nếu không nâng cao năng lực, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ thì Nhà nước dễ trở thành con nợ...


Công chức không thực thi công vụ, Nhà nước phải bồi thường

Theo ông Phạm Quốc Anh - Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam - thì việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước (Luật TNBTNN) phản ánh quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội. Luật đã đặt vai trò, địa vị pháp lý của người dân ngang bằng với Nhà nước, nghĩa là luật cho phép người dân yêu cầu, khởi kiện và Nhà nước phải bồi thường khi các công chức, viên chức của mình có lỗi... Điều này có ý nghĩa to lớn tới tiến trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính của đất nước.

Còn theo luật sư Lê Thiên - Văn phòng luật sư Lê và liên danh - thì dù chưa cụ thể hoá triệt để nguyên tắc đã được ghi trong Hiến pháp là Nhà nước có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra. Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của luật đã có bước mở đáng kể.

Cũng theo luật sư Thiên thì điểm nổi bật là luật đã xác định cả những trường hợp người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà gây thiệt hại thì Nhà nước phải bồi thường.

Cụ thể: Trong quản lý hành chính là các hành vi: Không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện.

Trong thi hành án dân sự là các hành vi: Không ra các quyết định về thi hành án như quyết định thi hành án, cưỡng chế thi hành án, hoãn thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án... và không tổ chức thi hành các quyết định này.

Trong thi hành án hình sự là hành vi không thực hiện quyết định hoãn thi hành án đối với người bị kết án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù.

 
Hải quan Bắc Thăng Long (Hà Nội) làm thủ tục cho các doanh nghiệp.  Ảnh: Lê Hà.

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh - giám đốc một Cty tư vấn luật - thì hành vi thụ động, thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức vừa gây thiệt hại rất lớn, lại vừa tạo ra môi trường nảy sinh tiêu cực. Việc chậm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư đôi khi làm tuột mất một dự án, thậm chí xoá sổ cả một doanh nghiệp... nhưng thường lâu nay không ai phải chịu trách nhiệm cả. Và việc Luật TNBTNN làm niềm tin về việc sớm khắc phục các hạn chế trên có cơ sở để thực hiện.

Không nâng cao năng lực, trách nhiệm..., Nhà nước thành con nợ

Khó khẳng định vi phạm của người thi hành công vụ

Luật sư Phạm Hồng Sơn - Đoàn luật sư Ninh Bình - cho biết: Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước có nhiều điểm mới so với các quy định khác của pháp luật trước đây về lĩnh vực này, đồng thời tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, nhất là trong trường hợp thiệt hại do công chức thuộc nhiều cơ quan khác nhau gây ra.

Trong đó, tôi thấy có một điểm mới khác so với trước đây là luật quy định hành vi không thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người thi hành công vụ mà gây thiệt hại thì Nhà nước cũng phải bồi thường.

Tuy nhiên, luật quy định điều kiện phát sinh quyền được bồi thường là phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường.

Việc này là rất khó và mất rất nhiều thời gian với người bị thiệt hại, vì các quy định của chúng ta còn chưa cụ thể và rất khó khẳng định vi phạm của người thi hành công vụ ngay, toà thì có vụ việc xử đến 9 lần vẫn chưa xong... Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, về hình sự, số vụ khiếu nại là 5.401 vụ, nhưng có căn cứ pháp luật chỉ là 138 vụ, chiếm khoảng 2,48%. A.M ghi

Trong bối cảnh nền hành chính còn đang trong quá trình hoàn thiện, hàng nghìn thủ tục đang cần được cải cách, thậm chí loại bỏ, năng lực, trách nhiệm cán bộ còn bộc lộ nhiều hạn chế, tiêu cực..., thì không ít ý kiến tỏ ra lo ngại việc chỉ riêng trong hoạt động quản lý hành chính luật xác định tới hơn 11 nhóm hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra... phải bồi thường sẽ khiến ngân sách nhà nước ôm nợ.

Cụ thể, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp như ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...

Theo một lãnh đạo Thanh tra Chính phủ thì đây đều là những lĩnh vực rất dễ xảy ra sai phạm và nếu không khắc phục được tình trạng này, ngân sách nhà nước sẽ phải dành một khoản không nhỏ để bồi thường.

Theo báo cáo của Chính phủ từ năm 1997 đến 2007, cả nước mới chỉ giải quyết 170 vụ việc đòi bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra (theo Nghị định 97) với số tiền bồi thường là trên 16 tỉ đồng. Còn sau 4 năm thi hành Nghị quyết 388 bồi thường cho người bị oan trong tố tụng hình sự, thì cũng mới giải quyết được 200 vụ với tổng số tiền bồi thường là gần 15 tỉ đồng. Dù vậy, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận: Số lượng vụ việc được bồi thường không tương xứng với yêu cầu thực tế.

Theo luật sư Lê Thiên, dù luật đã quy định người thi hành công vụ gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi hoàn tiền bồi thường cho Nhà nước; tuy nhiên, tính khả thi của quy định này không cao. Theo luật sư Thiên, nếu không nâng cao năng lực và trách nhiệm công vụ của cán bộ, ngân sách nhà nước sẽ phải dành một khoản rất lớn để bồi thường cho các sai phạm của cán bộ công chức gây ra.

Và không phải đến bây giờ, ngay từ khi xây dựng luật này, tại diễn đàn QH từ Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH - ông Ksor Phước - đến Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính Phùng Quốc Hiển và nhiều ĐB đều tỏ ra lo lắng cho túi tiền quốc gia. Thậm chí, ông Ksor Phước còn băn khoăn “không khéo luật ra đời, Nhà nước lại trở thành... con nợ”.

>> Ý kiến của bạn
Duy Thanh

Phó Chủ tịch Hà Nội 'đề nghị xử lý' một luật sư?

Trở lại với dự án Khu đô thị mới Tây Nam hồ Linh Đàm, ngày 25/9/2007, UBND TP. Hà Nội có quyết định số 3789 “thu hồi 492.841m­2 đất tại cụm Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai và thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, giao cho Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị để đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Tây Nam hồ Linh Đàm”.
Mô tả ảnh.
Đã 2 năm trôi qua, dự án Khu đô thị mới Tây Nam hồ Linh Đàm vẫn chưa thể khởi công được vì vấp phải sự không đồng thuận của hàng trăm hộ dân Bằng A. Người dân ở đây cho biết, đây là lần thứ 3 đất nông nghiệp của họ bị thu hồi để làm khu đô thị. Ảnh: Duy Tuấn
Trong đó, cụm Bằng A bị thu hồi nhiều nhất với 440.854m2, bao gồm tất cả 100% đất nông nghiệp. Ngay từ đầu, dự án này đã vấp phải sự không thuận quyết liệt của nhân dân cụm Bằng A. Người dân không đồng ý giao đất cho dự án vì cho rằng giá đất đền bù quá thấp, mà trong nội dung dự án có cả việc xây nhà cao tầng, biệt thự để bán theo giá kinh doanh. Hơn nữa, việc thu hồi  toàn bộ số đất nông nghiệp nhưng chủ đầu tư và chính quyền địa phương không có phương án chuyển đổi nghề nghiệp…
Nhận trợ giúp pháp lý cho người dân, sau khi nghiên cứu các quy định của luật pháp có liên quan đến việc thu hồi đất, LS Tạ Định đã có văn bản phân tích gửi UBND quận Hoàng Mai.
Ông Định cho rằng, đây là dự án phát triển kinh tế của một doanh nghiệp. Việc thành phố Hà Nội ra quyết định thu hồi 100% đất nông nghiệp là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Luật sư Định viện dẫn khoản 2, điều 40 của Luật Đất đai: “Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế”. Đối với loại dự án này thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân mà không thực hiện thủ tục thu hồi đất.
Trong lúc đó, dự án này lại có quyết định thu hồi đất, từ đó dẫn đến việc người dân chỉ được nhận tiền đền bù theo mức giá nhà nước quy định chứ không được thỏa thuận.
Mô tả ảnh.
Luật sư Tạ Định đã có đơn khiếu nại đối với báo cáo số 176 của Sở Tư pháp và công văn số 5500 của UBND TP. Hà Nội đề nghị xử lý ông. Đến nay, LS Định không tiếp tục khiếu nại văn bản hành chính đề nghị xử lý ông nhưng nếu Sở Tư pháp Hà Nội không tổ chức đối thoại với ông để làm rõ một số nội dung trong báo cáo số 176 theo như chỉ đạo của UBND thành phố thì ông sẽ tiếp tục khiếu nại. Ảnh: Duy Tuấn
Tại quyết định thu hồi đất có đoạn: Dành 111.598,9m2 đất để xây dựng nhà ở, giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng lâu dài. Trong đó, có hơn 60 nghìn m2 đất để xây dựng nhà ở thấp tầng, biệt thự; hơn 50 nghìn m2 đất để xây dựng nhà ở cao tầng. Chủ đầu tư dành 30% quỹ nhà chung cư còn lại để bán cho cán bộ công nhân viên các cơ quan theo danh sách giới thiệu của UBND thành phố theo giá kinh doanh.
Vấn đề nữa mà LS Định nói đến là việc giá đền bù quá thấp. Riêng giá đất nông nghiệp chỉ có 252.000/m2. Do nhận định việc thu hồi đất nông nghiệp của bà con phục vụ dự án ”sản xuất kinh doanh” là chưa đúng nên theo quy định chủ đầu tư muốn được bàn giao đất thì phải có sự thoả thuận với người dân về giá…
Cuối cùng là vấn đề người nông dân bị thu hồi 100% đất nông nghiệp phải được giải quyết đất dịch vụ để họ có thể “kiếm kế sinh nhai” sau khi mất đất.
Sau những thông tin, căn cứ mà ông Định đưa ra về dự án Tây Nam hồ Linh Đàm, UBND quận Hoàng Mai cũng đã có văn bản trả lời luật sư, khẳng định những gì dự án đang tiến hành là đúng quy trình, quy định của pháp luật.
"Khẳng định của ông Giám đốc Sở Tư pháp Phan Hồng Sơn cho rằng quyết định số 3789/QĐ-UB thu hồi 492.841m2 đất giao cho Tổng HUD để đầu tư xây dựng... "là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 40 Luật Đất đai". Khẳng định như vậy là không chính xác. Nhận thức pháp luật của ông Giám đốc Sở Tư pháp mới không đầy đủ", LS Định nói trong đơn khiếu nại gửi lãnh đạo Hà Nội.
Cả hai bên, một bên là luật sư trợ giúp pháp lý cho người dân, một bên là chính quyền địa phương đều căn cứ vào quy định của pháp luật để bảo vệ quan điểm của mình. UBND TP. Hà Nội đã có văn bản đề nghị Sở Tư pháp cùng một số ban ngành vào cuộc để kiểm tra lại thông tin. Sau khi nhận được báo cáo của các cơ quan cấp dưới, thành phố đã ban hành công văn số 5500, đề nghị xử lý LS Tạ Định.
Tuy vậy, đang còn có nhiều ý kiến tranh luận trái chiều về dự án này cũng như việc UBND TP. Hà Nội đề nghị xử lý LS Tạ Định.
(Còn nữa)
  • Duy Tuấn

Vìdeo trực tiếp từ Paltalk: Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ

Video#2 : DienDan ChinhTri TranhLuan DanCHu - Live from PalTalk

Log In Paltalk: DienDan_ChinhTri_TranhLuan_DanChu

Liberty